Giới thiệu khái quát thành phố Uông Bí – Quảng Ninh

Giới thiệu khái quát thành phố Uông Bí – Quảng Ninh

Uông bí ở đâu

Tổng quan về thành phố Wengbi

Bạn Đang Xem: Giới thiệu khái quát thành phố Uông Bí – Quảng Ninh

Tổng quan về thành phố uông bí

1. Vị trí địa lý, tiềm năng, lợi thế:

Uông Bí là thành phố nằm ở phía Tây của tỉnh Quảng Ninh.

Phía bắc giáp huyện lục ngạn (tỉnh Bắc Giang)

Phía nam giáp huyện thủy nguyên (TP Hải Phòng)

Phía đông giáp huyện Hoành Bồ và thị xã Quảng Yên (tỉnh Quảng Ninh)

Phía tây giáp thị trấn Đồng Trác (tỉnh Quảng Ninh)

Uông Bí cách thủ phủ Hà Nội 130 km, cách thành phố Hải Phòng 60 km, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 30 km và cách thành phố Hạ Long của tỉnh Quảng Ninh 45 km, có đường bộ, đường sắt và đường sắt thuận tiện. mạng lưới đường thủy thuận lợi cho việc trao đổi và tiêu thụ hàng hóa.

Ung Bí nằm trong tam giác phát triển phía Bắc Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, là đô thị loại II đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, được kỳ vọng trở thành hình mẫu phát triển nhanh và bền vững của vùng Đông Bắc Việt Nam.

Là tuyến phòng thủ phía Đông Bắc của đất nước, thành phố có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh.

* Tiềm năng, lợi thế:

Ngày 28 tháng 10 năm 1961, thị trấn Wengbi chính thức được thành lập. Trong quá trình xây dựng và phát triển, Uông Bí đã có những bước phát triển vượt bậc. Ngày 01/02/2008: Bộ Xây dựng ra Quyết định số 187/qd-bxd công nhận thị xã Ugni Bi là thị xã loại 3 thuộc đô thị trực thuộc Trung ương tỉnh Quảng Ninh. Ngày 25/02/2011: Chính phủ ra Nghị quyết số 12/NQ-CP thành lập thành phố Um Bi trực thuộc tỉnh Quảng Ninh. Ngày 28/11/2013: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2306/qd-ttg công nhận Thành phố Uông Bí là đô thị loại hai trực thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Bí đỏ Quảng Ninh có nhiều tiềm năng, lợi thế nổi bật, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ của thành phố Quảng Ninh và của cả tỉnh.

Uông Bí có di tích lịch sử văn hóa và Danh thắng Yên Tử (kinh đô Phật giáo – Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam) và đình chùa là di tích đặc biệt cấp quốc gia. Thành phố còn có các di tích cấp tỉnh như: chùa – chùa Hoành Sơn, chùa Bhawan, chùa pho am, đình – lạc thanh và các khu du lịch sinh thái như hồ yên trung, lá phổi xanh…

Thành phố có nguồn khoáng sản than rất lớn (khu vực có trữ lượng than lớn nhất tỉnh Quảng Ninh) đang được khai thác. Đây là ngành quan trọng thúc đẩy các khu công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cơ điện phát triển mạnh tại Kim Đan, đoạn phía Nam Quốc lộ 18a, các khu vực dọc và phía Nam Quốc lộ 10. Kè…

2. Địa hình, địa hình

Uông bí nằm trong vuốt chính cung triều đông, hướng tây đông, cấu trúc địa hình thấp dần từ bắc xuống nam. Cao nhất ở phía bắc là núi Yantu với độ cao 1068 mét và núi Baodai với độ cao 875 mét. Ở phía nam, thấp nhất là vùng trũng ngập nước ven sông Đà Bắc.

2/3 diện tích thành phố uông bí là đồi núi thoai thoải từ bắc xuống nam, chia làm 3 khu vực khác nhau:

Khu vực Tây Nguyên: chiếm 65,04% tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố, bao gồm xã Thượng Yên Công, phường Vàng Danh và các phường Nam Khê, Bắc Sơn, Thanh Sơn, khu vực phía Bắc Quốc lộ 18a, Quang Trung, Trưng Vương và Đông Phương.

Khu vực thung lũng: Nằm giữa Núi cao phía Bắc và Núi thấp phía Nam, địa hình thấp, dọc theo Quốc lộ 18b từ Nanmao đến xã Shangyan và Banten ở Bandanfang. Diện tích rất nhỏ, chỉ chiếm 1,2% diện tích tự nhiên của thành phố.

Vùng đất thấp: Bao gồm các cộng đồng và khu vực bầu cử ở phía nam Quốc lộ 18a như Khu vực bầu cử phía Nam, Khu vực bầu cử phía Đông, khu vực bầu cử nam khê, quang trung, trung vuong và điện công. Địa hình trong khu vực bằng phẳng, chủ yếu là các bãi bồi ven sông, độ dốc i (0÷80), đất canh tác xen kẽ giữa các mương rạch, cao độ từ 1÷5m. Diện tích khoảng 7.700 ha, chiếm 26,90% diện tích tự nhiên của thành phố.

3. Khí hậu

Vị trí địa lý, địa mạo nằm trong vuốt chính cung triều phía Đông, phía Bắc có nhiều núi cao, phía Nam thấp tạo nên hệ khí hậu đa dạng, phức tạp ở Uông Bí. Khí hậu vừa mang tính chất miền núi vừa có tính chất ven biển.

Dãy núi Bình Hương cao 384 mét nằm giữa Yên Tử và núi Bảo Đại tạo thành các thung lũng và vùng đất thấp hẹp chia cắt khí hậu Uông Bí thành nhiều tiểu vùng rõ rệt. Trong đó, vùng núi An-pơ phía bắc đường 18b có khí hậu lạnh, mưa vừa; khu vực núi cao dọc đường 18b có khí hậu thung lũng, ít mưa, mùa hè nóng, mùa đông lạnh; vùng núi kéo dài từ phía nam Đường 18b ở phía bắc Đường 18a đến hạ lưu sông Đại Bắc, Là vùng khí hậu ven biển.

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,20c. Nhiệt độ trung bình vào mùa hè là 22-300°C và cao nhất là 34-360°C. Nhiệt độ trung bình vào mùa đông là 17-200°C, thấp nhất là 7-120°C. Số ngày nắng trung bình trong mùa hè là 6-7 giờ/ngày, mùa đông là 3-4 giờ/ngày, số ngày nắng trung bình trong tháng là 24 ngày. Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 81% và độ ẩm tương đối tối thiểu trung bình là 50,8.

Lượng mưa trung bình hàng năm là 1600 mm, cực đại là 2200 mm. Nước mưa thường tập trung vào các tháng 6, 7 và 8 hàng năm, chiếm 60% lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình hàng năm là 133,3 mm và số ngày mưa trung bình hàng năm là 153 ngày.

Hướng gió chủ đạo quanh năm là đông nam vào mùa hạ và đông bắc vào mùa đông. Vào mùa hè, nơi đây thường có bão, kèm theo gió lớn và lượng mưa lớn.

Cũng như các khu vực, thị xã, thành phố ven biển Bắc Bộ, Uông Bí chịu ảnh hưởng trực tiếp của trung bình khoảng 2-3 cơn bão mỗi năm.

Khí hậu ở Umbi thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, đời sống và môi trường. Trong đó, do địa hình, địa mạo đa dạng đã tạo nên nhiều đới khí hậu khác nhau, rất thích hợp cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và du lịch.

4. Thủy văn

Thành phố Wengbi bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thủy triều của Vịnh Bắc Bộ, với biên độ thủy triều trung bình là 0,6m. Thành phố được nuôi dưỡng bởi 3 con sông: ba bac, uông và sinh. Hầu hết các hệ thống sông đều là sông nhỏ, lưu vực hẹp, nguồn nước và dòng chảy hạn chế.

Sông Đại Bắc chảy qua khu đô thị (thuộc khu vực: nam, đông, Quảng Trung) dài 12 km, rộng trung bình 400 m, độ sâu nước khi thủy triều lên có thể đảm bảo cho tàu 5.000 tấn qua lại. dầm. 400-500 tấn ra vào cảng. Là tuyến đường thủy liên tỉnh, nơi các tàu thuyền trọng tải lớn chở vật tư, hàng hóa ra hải dương, hải quân và ngược lại.

Sông uông nối với sông vàng danh và kết thúc ở huyện lượng trung, ở ranh giới nước ngọt và nước mặn, có đập tràn thu nước làm mát cho nhà máy điện uông bí.

p>

Sông chảy qua trung tâm thành phố, dài 15 km, cung cấp nước cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Thành phố có 2 hồ là hồ Yên trung với diện tích 50 ha và hồ tan lấp với diện tích 16 ha. Hai hồ lớn này cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp cho khu vực xung quanh. Ngoài ra, đây cũng là những địa điểm tốt để thu hút khách du lịch đến vui chơi.

Hồ Yên Trung – TP.Uông Bí.

5. Diện tích tự nhiên

Tổng diện tích đất tự nhiên là 25.546,41 ha.

6. Dân số

Quy mô dân số: Quy mô dân số của TP Uông Bí (theo số liệu năm 2015) là 120.933 người (dân số thường trú).

Tổng dân số toàn thành phố (bao gồm dân số thường trú và dân số chuyển đổi): 180.331 người (trong đó: 125.981 dân số thường trú và 54.350 dân số chuyển đổi).

Hướng thay đổi của cơ cấu dân số là tỷ lệ dân số nội thành ngày càng tăng, tỷ trọng dân số ngoại thành ngày càng giảm.

Tỷ lệ tăng dân số bình quân thời kỳ 2010 – 2015 là 2,19%.

Mật độ dân số là 472 người/km2.

Mật độ dân số nội thành: 642 người/km2.

Mật độ dân số ngoại ô: 98 người/km2.

Diện tích và dân số thực tế Uông Bí chia theo đơn vị hành chính năm 2015

st

Tên tổ chức

Quản trị

Diện tích

Tự nhiên (ha)

Dân số thực tế (người)

Số làng và huyện

17.623,5

113.110

90

Xem Thêm: Biển số xe 63 ở tỉnh nào? Biển số xe Tiền Giang là bao nhiêu?

1

748.05

9.808

5

2

352,67

8.627

7

3

1.404,88

21,009

13

4

2.744,93

6.480

9

5

Xem Thêm : Trại giam T16 ở đâu? Chức năng, nhiệm vụ của trại giam là gì?

5.415.91

16,152

12

6

945,71

15.370

11

7

1.441,05

8,593

7

8

2.172,49

13,266

14

9

2.397,81

13,805

12

8.007,27

7.823

11

10

1.246,00

1.950

3

11

6.767,27

5,873

8

25.630,77

120.933

101

7. Cơ cấu lực lượng lao động

Số lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (số liệu 2015): 60.200.

Ở đâu:

– Lao động phi nông nghiệp: 45.680.

– Tỷ lệ việc làm phi nông nghiệp: 75,9%.

Thống kê Lao động Thành thị 2012-2015

Độ tuổi lao động

2012

Xem Thêm: Biển số xe 37 ở tỉnh nào? Biển số xe Nghệ An là bao nhiêu?

2013

2014

2015

Mọi người

55.280

58.186

59.080

60.200

Mọi người

40.400

43.030

43,795

45,680

%

73.1

74,0

74.1

75,9

Thành phố Umbi có lợi thế là trung tâm công nghiệp, du lịch, y tế và đào tạo phía Tây của tỉnh, với các trường dạy nghề, cao đẳng và 2 trường đại học trên địa bàn. Đào tạo nhân lực kỹ thuật rất phong phú, bao gồm các trường cao đẳng, đại học, cao đẳng, trung cấp kỹ thuật và công nhân kỹ thuật lành nghề.

VIII.Tài nguyên đất

Trên địa bàn TP.Uông Bí, sự phân bố các loại đất gồm:

– Nhóm đất mặn – kiềm m (salic fluvisols: fls): do phù sa sông biển bồi tụ trong nước biển, có diện tích 5.427 ha, chiếm 0,68% diện tích tự nhiên. Phân bố ở phía nam, đông, yên thành, quang trung, trung vương.

– Đất ngập mặn nông ngập mặn mm-g1 (epi gleyi salic fluvisols: fls-g1) có diện tích 576,59ha, chiếm 2,4% diện tích tự nhiên, phân bố ở nam, đông và tây yên thành, quang trung, vua. Đây là một loại đất tuyệt vời, thực sự khá màu mỡ và phù hợp với hầu hết rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản.

– Đất mặn sunfat sm (sali thionic fluvisols: fl ts): diện tích 1.603,87ha, chiếm 6,67% diện tích tự nhiên, phân bố ở phía nam, đông, Anseong, Quảng Trung và Trung Vọng, công trình . Hiện nay, phần lớn diện tích đất phèn được sử dụng để trồng lúa 1-2 năm năng suất thấp.

-Đất phù sa p (fluvisols-fl): Diện tích 357,98 ha, chiếm 1,49% diện tích tự nhiên thành phố và 45,68% nhóm đất phù sa. Phân bố ở các xã phía đông, nam, Nanxi, Zhongwang, Guangzhong và Diangong.

– Đất phù sa không bồi, nông không đều: pc-l-g1 (epi gleyi plinthi dystric fluvisols: fld-p-g1). Diện tích 374,89ha, chiếm 1,56% diện tích đất tự nhiên và 47,55% diện tích đất bãi bồi, phân bố trên địa bàn các huyện Yên Thành, Trưng Vương, Quang Trung.

– Đất phù sa không được bồi tụ bởi các mảng mây trắng sâu: pc-l-g2 (endo gleyi plinthi dystric fluvisols: fld-p-g2). Diện tích 53,21ha, chiếm 0,22% diện tích tự nhiên và 6,77% diện tích nhóm đất phù sa, phân bố ở Nam Khê.

– đất xám x (acrisols: ac): đất xám xh-u điển hình (umbric haplic acrisols:ach-u). Diện tích 413,27ha, chiếm 1,72% diện tích tự nhiên. Phân bố ở phía nam, đông, thanh sơn, yên thành.

– Hoàng thổ đỏ: (1) Hoàng thổ đỏ sâu fv-sk2 (endo skeleti ferralic acrisols: acf-sk2) 10491,78ha, chiếm 43,64% diện tích tự nhiên và 64,28% diện tích toàn thành phố. Diện tích đất đỏ, đất vàng phân bố ở Thượng yên công, vàng danh, bắc sơn, thanh sơn.

(2) Đất vàng, đá sâu: fvv-đ2 (endo liti ferralic acrisols acf-l2). Diện tích 5351,28ha, chiếm 22,26% diện tích tự nhiên và 32,79% diện tích đất đỏ vàng. Phân bố ở Thượng Yên Cống, Đông; thanh sơn, quang trung, bắc sơn, trung vương, nam khê, vàng danh.

(3) Đất vàng nhạt sâu xám fvv-sk2 (endo skeleti ferralic acrisols: acf-sk2) 478,21ha chiếm 1,99% diện tích tự nhiên và 2,93% diện tích đất đỏ vàng của thành phố, phân bố ở đông, thanh sơn, quang trung.

Đất đỏ vàng phân bố rộng rãi, tính chất đất phụ thuộc vào địa hình, mẫu vật, thảm thực vật, môi trường sinh thái sử dụng đất. Ở Uông Bí, phần lớn đất đỏ vàng nằm trên độ dốc > 200, tầng đất mịn dày 50-100cm, đất chua, nghèo bazơ, vật chất dễ tiêu, độ phì nhiêu tự nhiên trung bình thấp. Một phần diện tích bị bỏ hoang dưới cỏ hoặc bụi rậm, phần diện tích còn lại được bao phủ bởi thảm rừng và một số loài thực vật.

– Mùn nhũ vàng núi: hv (humus: acu): mùn nhũ vàng hvv-đ1 (epi lithi mùn: acu-l1) trên núi đá nông. Diện tích là 319,34 ha, chiếm 1,33% diện tích tự nhiên của thành phố. Phân bố ở vùng núi Yên Tử của xã Thượng Yên Công 169,59ha và Kim Bảng 149,75ha.

– Anthrosol: 1033,11ha, 4,3% DTTN. Phân bố tại Thường Yên Công 392,34ha; Đông Phương 266,87ha; Thanh Sơn 122,42ha; Quảng Trung 38,82ha; Bắc Sơn 115,74ha và Kim Danh 96,92ha.

9. Tài nguyên rừng

Năm 2011, diện tích rừng của TP. Diện tích bí đỏ là 13380,4 ha chiếm 52,2% tổng diện tích tự nhiên.

Rừng bí Uông chủ yếu là rừng trọc, thuộc loại rừng đã khai thác nhiều lần, trữ lượng rừng khoảng 50-70m3/ha. Chủ yếu là rừng hỗn giao, rừng tre nứa, rừng gỗ mềm, tuy nhiên cũng có một số loại gỗ quý hiếm như lát hoa, lim xanh, táu, táu…

Xem Thêm : [Tổng hợp] Bãi luyện công và Địa điểm lưu rương Võ Lâm 1 – Sgame

Ngày 26/9/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1671/qd-ttg, liệt kê rừng quốc gia Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh là rừng đặc dụng Việt Nam trong hệ thống rừng lịch sử – văn hóa – môi trường. Tổng diện tích của rừng Yên Tử là 2783 ha, trong đó có 2060,3 ha là rừng tự nhiên, với hệ động thực vật vô cùng phong phú.

Theo số liệu điều tra của Chi cục điều tra Tây Bắc tháng 9/2011 tại rừng quốc gia Yên Tử tỉnh Quảng Ninh (xây dựng dự án rừng quốc gia Yên Tử) đã xác định được 830 loài thực vật. Có 509 loài và chi Thực vật bậc cao có mạch, 171 họ, thuộc 5 ngành thực vật chính. Theo đánh giá sơ bộ của các chuyên gia thực vật, rừng đất đá hiện là trung tâm của các khu phân bố Tubili, Xingdaogai, Lim xanh, Mahogany, Senmi, Thông Hàn Quốc, Số 1, Linhu và Xinghuang. ,… Trong đó có 38 loài thực vật quý hiếm và độc đáo như lim xanh, mật đất, lát hoa, thông tre, la hán rừng, ngũ vị hương, gôm vàng… Tổng số loài động vật có xương sống trên cạn là 151 loài , trong đó: 17 họ và 5 bộ thú 35 Có 11 bộ, 32 họ và 77 loài chim; 2 bộ, 10 họ và 34 loài bò sát; 5 họ, 2 bộ và 15 loài lưỡng cư. Trong đó có khỉ vàng, sóc bay khổng lồ, ếch gai, ếch đỏ và 23 loài đặc hữu, quý hiếm khác được ghi trong Sách đỏ Việt Nam.

10. Tài nguyên khoáng sản

Hình ảnh khai thác than – Công ty Than Năm Mẫu Anh.

Nguồn khoáng sản hóa thạch lớn nhất ở Uông Bí là than đá, trữ lượng than khu vực Đông Triều-mộ Khê-Uông Bí lên tới 1,4 tỷ tấn, chiếm 40% trữ lượng than toàn tỉnh (3,5 tỷ tấn năm tỉnh). tỷ tấn). Công nghiệp khai thác than Uông Bí đã có từ năm 1916. Hiện sản lượng khai thác than tại khu vực vàng là hơn 5 triệu tấn/năm. Công nghiệp khai thác và chế biến than là ngành trụ cột có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố.

Ngoài than đá, Umbi còn có các loại khoáng sản để sản xuất vật liệu xây dựng: đá, sỏi, cát, xi măng, vôi, gạch ngói… đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Đáng chú ý là đá vôi với trữ lượng 280.000-30 triệu m3 phân bố chủ yếu ở khu vực phía Nam (đã xây dựng nhà máy xi măng công suất gần 500.000 tấn/năm; mỏ đá lớn công suất khoảng 40.000 m3/năm); sét đá, sỏi trữ lượng 595.000 tấn; Công ty TNHH xây dựng Quảng Ninh có sản lượng hàng năm 15 triệu viên gạch tuynel.

Bảng: Tài nguyên khoáng sản đô thị

(2011 Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp thành phố Uông Bí 2011-2020, định hướng 2025)

tt

Tài nguyên

Đã đặt trước

Tiềm năng

Vị trí

Xem Thêm: Biển số xe 63 ở tỉnh nào? Biển số xe Tiền Giang là bao nhiêu?

1

Than (tr.tấn)

300

500

2

Đá vôi (p.m3)

28-30

Xem Thêm: Gãy xương đòn – 7 điều cần biết – Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ

45

3

Đất sét (tr.m3)

20-22

30

4

Cát xây dựng (tr.m3)

5-10

20

5

Nhựa thông (tấn)

550-600

650

6

Gỗ các loại (1.000m3)

847

khoanh tròn

11. Tổ chức văn hóa

Thành phố Uông Bí tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, thiết chế để phát triển văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh đô thị. Các cuộc vận động văn hóa, thể dục, thể thao, tuyên truyền được thực hiện dưới nhiều hình thức phong phú, rộng khắp, đáp ứng nhu cầu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, thực hiện nhiệm vụ chính trị, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Nhà hát tỉnh miền Tây.

Năm 2015 có 80% số làng, khu dân cư đạt danh hiệu văn hóa. Ngoài đầu tư của Nhà nước, Uông Bí còn chú trọng xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa. Đến nay, 100% thôn, khu dân cư trên địa bàn thành phố đều có nhà văn hóa. 89% gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa.

Các hoạt động văn hóa, lễ hội được tổ chức nề nếp, nền nếp, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Tu bổ, làm đẹp và bảo vệ các di tích lịch sử được Trung ương và tỉnh quan tâm đầu tư, hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước.

Thành phố cũng như các ngành công nghiệp địa phương như than, điện thường xuyên quan tâm đầu tư các công trình văn hóa, thể thao tại địa phương. Đến nay, Uông Bí có 1 trung tâm văn hóa, 2 khu vui chơi thanh niên, 4 nhà thi đấu, 1 rạp chiếu phim, 4 nhà thi đấu đa năng hiện đại, 5 thư viện và phòng đọc sách, 3 camera quan sát và tháp Đài truyền thanh tỉnh Quảng Ninh.

12. Một số mục tiêu chủ yếu 5 năm (2015-2020).

Từ năm 2015 đến năm 2020, mục tiêu tổng thể mà Đảng bộ thành phố Wengbi xây dựng là: “Đoàn kết và tiến lên, đổi mới toàn diện, thúc đẩy thi đua ái quốc và xây dựng đô thị. Đến năm 2020, Wengmi sẽ được xây dựng thành một thành phố xanh.” thành phố công nghiệp theo định hướng dịch vụ, sạch đẹp; động lực phát triển chuỗi đô thị phía Tây; trung tâm dịch vụ, du lịch; trung tâm phật giáo của cả nước; trung tâm y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ của tỉnh; trung tâm kinh tế tương đương cơ cấu: Công nghiệp dịch vụ-du lịch; Xây dựng; Nông lâm ngư nghiệp. Huy động mọi nguồn lực, tập trung giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế nhanh, ổn định; gắn với thúc đẩy phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội; củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tích cực tự chỉnh đốn, tự đổi mới, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu lực chiến đấu, hiệu lực quản lý và hiệu quả hoạt động của đảng bộ các cấp. Nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; tăng cường chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của nhân dân”.

Mục tiêu phấn đấu chính:

(1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 13% đến 15%/năm.

(2) Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân 10%/năm.

(3) Cơ cấu ngành kinh tế trong gdp đến năm 2020: công nghiệp dịch vụ – du lịch chiếm 42%-45%; công nghiệp và xây dựng chiếm 51%-53%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 4%-5% .

(4) Giá trị ngành dịch vụ, thương mại, du lịch tăng trưởng bình quân 15% đến 17%/năm.

(5) Giá trị sản xuất công nghiệp-xd tăng trưởng bình quân 12%~15%/năm.

(6) Giá trị sản lượng nông, lâm nghiệp và thủy sản bình quân hàng năm tăng từ 3% đến 4%.

(7) Đến năm 2020, GRDP bình quân đầu người đạt trên 8.000 đô la Mỹ/người/năm.

(8) Đến năm 2020, giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 0,45% (theo chuẩn hiện hành).

(9) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm là 1,01%/năm.

(10) Việc làm mới được tạo ra hàng năm, trung bình từ 4.300 việc làm trở lên.

(11) Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 90%.

(12) Huy động 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; tỷ lệ hoàn thành lớp 6 cấp tiểu học đạt 100%, các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập đạt 100% trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia, trường mầm non và tiểu học đạt trên 80%.

(13) Nâng cao chất lượng tiêu chuẩn của 2 xã nông thôn mới.

(14) Tỷ lệ tiêu thụ điện hộ gia đình đạt trên 98%.

(15) Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch và nước hợp vệ sinh đạt 99%.

(16) Từ năm 2011 đến năm 2020, duy trì và giữ vững 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, đạt 75 cán bộ y tế (22 bác sĩ)/1 vạn dân.

(17) Giữ tỷ lệ che phủ rừng trên 50,8%.

(18) 98% rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý; 100% khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường; tỷ lệ xử lý chất thải rắn y tế đạt 100%.

(19) Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh đạt 50%.

(20) Bình quân hàng năm, đảng viên mới kết nạp đạt trên 4% tổng số đảng viên.

Văn hóa:

Thành phố đã đầu tư và phát triển văn hóa, xây dựng lối sống đô thị thú vị và có nhiều bước tiến. Các hoạt động văn hóa, thông tin, thể thao thiết thực phong phú, đáp ứng nhu cầu tuyên truyền pháp luật, thực hiện nhiệm vụ chính trị, giáo dục và phục vụ đời sống nhân dân.

Trọng tâm của xây dựng cộng đồng, xây dựng làng văn hóa là nâng cao chất lượng. Năm 2012, tỷ lệ cộng đồng văn hóa, làng văn hóa đạt 80%, bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước, công tác xã hội hóa trên lĩnh vực văn hóa cũng được quan tâm. Đến nay, 100% khu phố, thôn có nhà văn hóa được xây dựng bằng kinh phí hỗ trợ của Nhà nước và đóng góp của quần chúng nhân dân, đang hoạt động tốt. Tài khoản văn hóa đạt 89%. Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, lễ hội đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của quần chúng nhân dân. Công tác tu bổ, tôn tạo và bảo vệ các di tích lịch sử được Trung ương và các tỉnh, thành phố chú trọng, hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch trong và ngoài nước.

Thành phố cùng với ngành than, điện và các ngành công nghiệp khác trên địa bàn huyện thường xuyên quan tâm đầu tư xây dựng các công trình văn hóa, thể thao của địa phương, hiện nay, thành phố có 1 huyện. Trung tâm văn hóa, 1 khu vui chơi giải trí, 2 nhà thi đấu thanh niên, 1 rạp chiếu phim, 4 nhà thi đấu đa năng hiện đại cấp quốc gia, 5 thư viện đọc sách, 3 trạm tiếp sóng, truyền hình vtv1, vtv2, vtv3, khu di tích lịch sử văn hóa 4 (Yentu Ruins) Khu danh lam thắng cảnh, Nhà công vụ Đền Công, Nhà công cộng Lạc Thanh, Chùa Hang Son, Chùa Bà Kim), có 2 khu du lịch sinh thái (hồ yên trung và lá phổi xanh) đảm bảo đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của công nhân và nhân dân của thành phố. Đến nay, 100% hộ gia đình trên địa bàn thành phố đều có phương tiện nghe nhìn như tivi.

Các điểm tham quan và đặc sản địa phương:

– Uông Bí có lợi thế rất đặc biệt để phát triển du lịch văn hóa tâm linh và là danh lam thắng cảnh lịch sử quốc gia đặc biệt. Các khu di tích như: ba chùa vàng, nhà công vụ-chùa Lạc Thanh, nhà công vụ-chùa hang sơn, nhà công vụ chùa công; phủ xanh danh lam thắng cảnh, hồ An Trung; loại hình kết hợp nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái phía nam, điện công . Ngày nay, Chùa Vàng đã trở thành một điểm du lịch thu hút khách du lịch cùng với Yantu.

Trải nghiệm đặc biệt “Ngày hội thợ lò” của tỉnh Quảng Ninh được triển khai thí điểm tại mỏ vàng TP Uông Bí vào ngày 24/8/2015 là một sản phẩm du lịch mới.

– Đặc sản bí đao nổi bật với vải thiều chín sớm phương Nam, thanh long ruột đỏ, mơ Yên Tử và mai vàng Yên Tử, trầu một lá, nấm linh chi, nước mơ Yên Tử, một số vị thuốc tiên.. .  

Ở uông bí, sợi bún riêu cua rất tinh tế và hương vị rất khác…

Măng Diên Đồ cũng là một món ăn hấp dẫn, có thể bỏ vỏ ngâm nước sôi rồi nướng trên than hoa cho đến khi măng khô. Măng sau khi lột vỏ sẽ tỏa ra mùi thơm, thực khách chỉ cần chấm với muối vừng là có thể ăn được. Hoặc dùng để xào với thịt bò…

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giải Đáp Cuộc Sống