Giới thiệu khái quát tỉnh Long An

Giới thiệu khái quát tỉnh Long An

Long an ở đâu

Long An nằm ở vị trí trung tâm phía Đông và Tây Nam Bộ, giữa vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp TP.HCM, trung tâm sản xuất và tiêu thụ lớn nhất cả nước. người tiêu dùng hàng hóa trong nước.

Bạn Đang Xem: Giới thiệu khái quát tỉnh Long An

  1. Thông tin chung

  2. Điều kiện tự nhiên

  3. Vị trí địa lý
  4. Tỉnh Long An là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang. Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 4491,87 km2. Toàn tỉnh có 1 thị xã và 13 huyện, trong đó có 6 huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mai, vùng trũng gồm Xinxing, Vĩnh Hing, Mu Hóa, Tân Thành, Thạnh Hóa, Đức Huệ, với diện tích ​298.243 ha diện tích đất tự nhiên. Các huyện còn lại là các huyện đa ngành phát triển tương đối ổn định.

    Long An có điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Đường biên giới của Long nhãn dài 137,7 km, điều kiện trao đổi hàng hóa với Campuchia và các nước Đông Nam Á rất thuận lợi. Cửa sông Soài nhìn ra Biển Đông, Long An có khả năng phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ vận tải, xuất nhập khẩu.

    1. Địa hình
    2. Tỉnh Long An thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có tọa độ địa lý từ 105030’30 đến 106047’02 độ kinh Đông và 10023’40 đến 11002’00 độ vĩ Bắc. Phía Đông giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp tỉnh Svay Rieng của Vương quốc Campuchia, phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang. Vị trí địa lý của Long An rất đặc biệt, ngoài việc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh còn được xác định là vùng kinh tế sôi động, có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam.

      Tuy thuộc ĐBSCL nhưng Long An là vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ nên địa hình có xu hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Phía bắc và đông bắc tỉnh có một số đồi thấp, trung tâm tỉnh là đồng bằng, tây nam là vùng trũng Dong Thame, bao gồm 46.300 ha rừng tràm japonica.

      Trên địa bàn tỉnh có 6 loại đất chính, nhưng phần lớn là đất phù sa, nhiều tạp chất hữu cơ, kết cấu rời rạc, tính chất cơ lý kém, nhiều nơi bị chua phèn, tích tụ độc tố.

      p>

      Địa hình Long An phần lớn là hệ thống kênh rạch chằng chịt, tổng chiều dài 8.912 km, do sự kết hợp giữa sông và sông đồng cỏ phía Đông và phía Tây tạo thành sông cỏ, kênh mương đường văn dương, v.v. Lớn nhất là sông Đồng Văn chảy qua Long An.

      c.Tài nguyên

      Tài nguyên đất: Theo điều tra cơ bản, ở Long An có 6 loại đất chính: đất phù sa cổ (chiếm 21,5% diện tích), đất phù sa ngọt (chiếm 17,04% diện tích), và đất mặn. (chiếm 1,26% diện tích), đất phèn (chiếm 55,47% diện tích) và đất than bùn (chiếm 0,05% diện tích). Phần lớn đất đai ở Long nhãn được hình thành dưới dạng bauxite phù sa, không thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất nông nghiệp.

      Tài nguyên rừng: Tính đến năm 2000, diện tích rừng của tỉnh Long An là 44.481 ha, tỷ lệ che phủ rừng là 17,15%. Tràm và bạch đàn là hai cây trồng chủ lực, tổng trữ lượng gỗ tràm và bạch đàn khoảng 1,26 triệu m3. Ngoài ra, ở Long An còn có khoảng 175 triệu cây phân tán. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên động thực vật của hệ sinh thái rừng tràm trên đất phèn trũng Long An đã bị khai thác và xâm hại nghiêm trọng. Từ đó làm thay đổi hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, thay đổi nơi cư trú tự nhiên của sinh vật, ảnh hưởng đến quá trình phát triển bền vững. Nguyên nhân chính dẫn đến mất rừng là do thiếu quy hoạch và tổ chức, phần lớn diện tích rừng đã bị chuyển sang trồng lúa.

      Tài nguyên khoáng sản: Than bùn nhãn có trữ lượng khoảng 2,5 triệu tấn, phân bố ở nhiều huyện của Đồng Tháp như Xinli-Muhe, Xinli-Thanh Hoa (kho báu), Xinqing (Xã Xinhe), Đức Huệ (Mỹ Quý Tây) xã, bẫy lau xanh). Than bùn Long An có hàm lượng tro thấp, nhiều mùn và khoáng chất cao nên là nguồn nguyên liệu tốt cho sản xuất chất đốt và phân bón.

      Ngoài ra, phía bắc tỉnh còn có các mỏ sét.

      1. Khí hậu
      2. Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Do tiếp giáp hai vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ nên vừa mang nét đặc trưng riêng của ĐBSCL, vừa mang nét riêng biệt của vùng phía Đông.

        Nhiệt độ trung bình tháng 27,2 -27,7 oC. Thường nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 4 là 28,9oC, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 là 25,2oC.

        Lượng mưa hàng năm dao động từ 966 -1325 mm. Mùa mưa chiếm hơn 70-82% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa phân bố không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh Thành phố Hồ Chí Minh về phía Tây và Tây Nam, khu vực Đông Nam Bộ gần biển có lượng mưa ít nhất. Cường độ mưa lớn làm sạt lở đồi núi cao, đồng thời mưa kết hợp với triều cường gây ngập úng ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân.

        Độ ẩm tương đối trung bình năm 80 – 82%. Thời gian chiếu sáng trung bình ngày 6,8 – 7,5 giờ/ngày, thời gian chiếu sáng trung bình năm 2.500 – 2.800 giờ. Tổng biên độ nhiệt năm 9.700 -10.100oC, biên độ nhiệt tháng từ 2-4oC.

        Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có hướng đông bắc, tần suất 60-70%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 gió tây nam với tần suất 70%.

        Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo điển hình, có nền nhiệt ẩm phong phú, nắng vừa đủ, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng nhiệt độ cao, chênh lệch nhiệt độ lớn. Năm nay nhiệt độ thấp và ôn hòa.

        Những khác biệt lớn về thời tiết, khí hậu nêu trên ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp.

        1. Điều kiện xã hội
        2. Dân số
        3. Tính đến năm 2014, dân số tỉnh Long An đạt gần 1,4773 triệu người, mật độ dân số đạt 329 người/km2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của các tiểu vùng tăng 8,3%.

          Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, tỉnh Long An có 28 dân tộc anh em và 23 người nước ngoài sinh sống. Trong đó có 1.431.644 người Kinh, 2.690 người Hoa, 1.195 người Khmer và nhiều dân tộc khác, trong đó có ít nhất một trong các dân tộc Qiqi Lào, Churu, Laglai…

          Tính đến ngày 1-4-2009, trên địa bàn tỉnh Long An có 11 tôn giáo khác nhau, với 206.999 nhân khẩu. Trong đó, Phật giáo có số lượng đông nhất là 125.118 người, kế đến là Cao Đài 98.000 người, Công giáo 31.160 người, các tôn giáo khác như Tin lành 3.480 người, Phật giáo Hòa Hảo 3.480 người, Tịnh độ cư sĩ Phật giáo Việt Nam 22.221 người. với 242 người, có 230 tín đồ, Đạo giáo và Minh giáo 43 người, mỗi tôn giáo 38 người, và chỉ có 11 người là Đạo và hiếu ít nhất.

          1. Tiềm năng kinh tế
          2. Nổi tiếng với nhiều loại nông sản như gạo tài nguyên, gạo thơm chợ đào, rượu de go den, dưa hấu long trì, khóm Bến Lức, đậu phộng đức hòa, mía thủ công… đặc biệt lúa gạo là nông sản chủ lực Chất lượng xuất khẩu tốt nhưng sức cạnh tranh của nông sản với các nước trong khu vực nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của công nghiệp chế biến.

            Công nghiệp chiếm khoảng 40% giá trị sản lượng kinh tế của tỉnh, nổi bật là dệt may, thực phẩm chế biến, xây dựng và các sản phẩm khác trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh. Việt Nam Năm 2011, tỉnh Long An đứng thứ 3 trong 63 tỉnh thành cả nước.

            Ước tính đến cuối năm 2012, sẽ có 650 doanh nghiệp trong nước được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đến cuối năm 2012 cả nước có tổng số 4.810 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký hơn 81.750 tỷ đồng, và 70 dự án đầu tư mới được chấp thuận, vốn đầu tư khoảng 250 triệu USD, về đầu tư trực tiếp có 477 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư, với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 3,7 tỷ USD, 270 dự án đã đi vào sản xuất, với tổng vốn vốn đầu tư 1,7 tỷ đô la Mỹ.

            Bên cạnh công nghiệp, Long An cũng chú trọng phát triển thương mại, công nghiệp dịch vụ và du lịch, phấn đấu đến năm 2020 tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 17%. Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng sẽ phát triển theo hướng phát triển toàn diện, phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2011 – 2020 đạt 5,7%/năm.

            Theo định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực trên, tỉnh Long An phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 2012-2030 là 12,5%/năm, trong đó giai đoạn 2012-2020 tốc độ tăng trưởng là 13%/năm . Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người đạt 50 triệu đồng/người/năm, đến năm 2020 GDP bình quân đầu người đạt 80 triệu đồng/người/năm; Đến năm 2015, tỷ trọng nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP lần lượt đạt 28%, 41% và 31%. 15%, 45%, 40% vào năm 2020, 7%, 48%, 45% tầm nhìn 2030.

            Tiềm năng du lịch: Long An giàu tài nguyên du lịch. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 186 di tích lịch sử, trong đó có 7/53 di tích được xếp hạng di tích lịch sử như: Lăng và đền thờ ông Nguyễn Hoàng Đức ở Trấn An, Chùa Dược trấn Cần Giuộc, Nhà Trăm Cột Cần Giuộc. , v.v… Ngoài ra, Long An còn có Lễ cầu an, Lễ cầu mưa, Lễ lên ngôi và các lễ hội khác, cùng nhiều trò chơi dân gian như đua thuyền, kéo co, vật… thu hút đông đảo du khách. khách du lịch.. Các nghề thủ công truyền thống của tỉnh như điêu khắc gỗ (can được, bến lức), nghề kim hoàn (phước vân), đóng tàu (can được)… cũng là những điểm thu hút khách du lịch lớn. Đây là những tài nguyên du lịch quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với định hướng phát triển và quy hoạch phát triển du lịch của toàn tỉnh.

            Lợi thế về kinh tế: Dọc biên giới Long An hiện có 5 cửa khẩu gồm: Cửa khẩu Tho Mo – Đức Huệ, Cửa khẩu Bình Hiệp – Chế biến gỗ và Cửa khẩu Đồn. – vinh hưng, kênh 28 – cửa khẩu vĩnh hưng Ngoài ra khu vực đức huệ còn có 5 điểm trao đổi hàng hóa là đinh voi, đinh dinh, ta lô khu mộc hóa, rạch chanh, nu tu, trâm ở vinh hưng diện tích.

            1. Biên cương, núi non, hải đảo xa xôi
            2. Xem Thêm: Biển Số Xe 15, 16 Ở Đâu? Tỉnh Nào ? Biển Số Xe Theo Khu Vực

              Dọc biên giới Nhãn hiện có 5 chốt kiểm soát, bao gồm:

              Cửa ngõ giữa Hoa Kỳ và phương Tây——đức huệ

              Cửa khẩu bình hiệp (cầu-vò) – thị xã kiến ​​tường

              Cửa khẩu Vàm Đồn – Vĩnh Hưng

              Kênh 28 – Vĩnh Hưng Môn

              Ông Bí (xom-rong).

              Các khu vực và thị trấn giáp với Campuchia bao gồm:

              Xem Thêm : 25 là tỉnh nào? Biển số xe 25 ở đâu? Bật mí vùng Tây Bắc – Lai Châu

              thị trấn kiến ​​tường, huyện đức huệ, huyện mộc hóa, huyện tân hưng và huyện vĩnh hưng, hóa thạch, cần Giuộc.

              Theo nghị quyết số 964/qd-ttg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/6/2015, 7 huyện, thị xã của tỉnh Long An được đưa vào danh sách địa bàn ưu tiên thực hiện kế hoạch phát triển doanh nghiệp. Các huyện đảo giai đoạn 2015 – 2020 gồm: huyện Đức Huệ, huyện Mộc Hóa, huyện Vĩnh Hưng, thị xã Kiến Tường, huyện Thanh Hóa, huyện Tân Hưng, huyện Cần Giuộc.

              1. Thành phố Ant Wall
              2. Kiến Tường là một thị xã thuộc tỉnh Long An, Việt Nam. Thị xã Kiến Tường được thành lập ngày 18 tháng 3 năm 2013 trên cơ sở tách các bộ phận của huyện Muhe và dân cư của huyện.

                Xem Thêm : Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa năm nào? Ở đâu và như thế nào?

                wooden là thủ phủ của tỉnh Kiến Tường cũ thời Việt Nam Cộng Hòa từ 1956-1975 (tỉnh lị mang tên “Wood”). Năm 1976, tỉnh Kiên Siang được giải thể và sáp nhập vào tỉnh Long An. Năm 2013, 37 năm sau khi mất hẳn tên gọi, di tích Kiến Tường tái hiện dưới tên gọi của một thị trấn mới thành lập thuộc tỉnh Long An: thị trấn Kiến Tường.

                Vị trí: Phía đông giáp huyện Muhe. Phía Tây giáp 2 huyện Vĩnh Hưng và Tân Hưng. Nó giáp huyện Kampong, tỉnh Ulairong, Campuchia ở phía bắc và huyện Tân Thành ở phía nam.

                Hành chính: Thị xã kiến ​​tường gồm 3 huyện và 5 xã:

                phường 1, phường 2, phường 3, tuyên thành, thanh hưng, bình hiệp, bình tân, thanh trì

                Điều kiện tự nhiên:

                Địa hình: Vạn Lý Trường Thành nằm ở trung tâm vùng Đồng Tháp Mai, nơi có vùng đất thấp bị ngập lụt hàng năm.

                Khí hậu: Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Hàng năm, kiến ​​tường bị ảnh hưởng bởi lũ lụt ở hệ thống sông và đồng cỏ.

                Tài nguyên: Đất đai chủ yếu là đất phèn, thích hợp trồng lúa và tràm. Nước ngọt được cung cấp bởi các con sông và kênh rạch nối liền Thiên Hà quanh năm.

                1. Quận Đức Thuận
                2. Du Xuyên là một huyện phía Bắc của tỉnh Long An, giáp với vùng “Miệng Vẹt” của Campuchia. Nằm ở rìa Đông Bắc của vùng Đồng Tháp, tiếp giáp với vùng Đông Nam Bộ, là điểm chuyển tiếp từ vùng Đông Nam Bộ sang Đồng bằng sông Cửu Long. Nền kinh tế của khu vực vẫn chủ yếu là nông nghiệp. Những lĩnh vực có tiềm năng phát triển kinh doanh với Campuchia

                  Vị trí: Huyện Đức Huệ nằm ở phía Bắc tỉnh Long An, có diện tích tự nhiên (dttn) 43.092,4 ha, được chia thành 10 đơn vị hành chính (9 xã và 1 thị trấn). Địa giới hành chính của huyện Deshun tiếp giáp với tỉnh Long An, tỉnh Tây Ninh và 4 huyện của Campuchia, cụ thể:

                  Phía đông bắc giáp huyện đức hòa. Phía nam và đông nam giáp các huyện thủ thừa, bến lức. Phía Tây và Tây Nam giáp Thanh Hóa, tỉnh Long An và Campuchia.

                  Ducson nằm ở rìa Đông Bắc của vùng Đồng Tháp Mee, tiếp giáp với vùng Đông Nam Bộ, là điểm chuyển tiếp của vùng Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long. Từ vị trí địa lý trên, Đức Thuận được bổ sung nguồn nước ngọt từ hồ Dầu Tiếng, nâng cao lợi thế sản xuất các loại nông sản, hàng hóa đặc trưng của vùng ĐBSCL như: lúa, mía, thịt (heo), bò, vịt), tôm, cá và Lâm sản (tràm). Đồng thời, với vị trí là cửa ngõ gần nhất từ ​​biên giới Campuchia – qua thị xã Haunghia đến TP.HCM. Hồ Chí Minh nên có lợi thế phát triển kinh doanh dịch vụ (xuất nhập khẩu qua biên giới), thu hút vốn đầu tư bên ngoài (kinh tế nông nghiệp, dịch vụ, thương mại…).

                  Trong tương lai, sau khi hoàn thành xây dựng các trục giao thông huyết mạch và tuyến vành đai biên giới N1 sẽ giúp Đức và Thụy Sĩ phát huy được lợi thế trong phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là kinh tế dịch vụ, và đẩy mạnh có hiệu quả công nghiệp hóa-hiện đại hóa chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

                  Tuy nhiên, vị trí địa lý cũng đặt ra một số hạn chế đối với Derry: do là vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và ĐBSCL nên có các mẫu phù sa cũ và mới cùng các vật liệu khác. Các vụ sản xuất phèn luân phiên gối đầu nhau nên 100% diện tích đất thuộc loại đất bạc màu, cộng với việc không có hồ dầu ren, toàn bộ địa phận huyện đức huệ bị nhiễm mặn 4 g/l trong 3-4 tháng/năm, cơ sở hạ tầng đã được đầu tư chậm phát triển, đồng thời là một trong những địa bàn nghèo nhất tỉnh Long An (số hộ nghèo còn 19,3%). Đồng thời, tuyến biên giới dài 25 km (thuộc địa bàn 4 xã) là điểm nóng về buôn lậu, thu hút nhiều nhân lực tham gia, gây đình trệ sản xuất nông nghiệp và tâm lý cho rằng kiếm tiền dễ hơn lao động chân chính.

                  Hành chính: Huyện lỵ là Tongcheng. Ngoài ra còn có 10 xã: hòa bình bắc, bình hòa hưng, hòa bình nam, bình thạnh, mỹ bình, mỹ quy đông, mỹ quy tây, mỹ thanh bắc, mỹ thanh đông, mỹ thanh tây, điều kiện tự nhiên:

                  khí hậu – thời tiết: Khí hậu khu vực Đức Huệ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao quanh năm, nắng vừa đủ, lượng mưa nhiều, phân mùa. Theo số liệu quan trọng, nhiệt độ trung bình của trạm là 27,2 oc, tháng nóng nhất là tháng 5 là 29,7 oc, nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 là 23,6 oc. Chênh lệch nhiệt độ năm dao động khoảng 6,1°C, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm dao động lớn (8°C-10°C), tổng nhiệt độ chênh lệch là 9928°C/năm. Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng thâm canh, nhất là cây mía, lúa, ngô, rau màu. Lượng mưa trung bình hàng năm là đáng kể (1.970 mm/năm) và có sự phân bố rõ rệt theo mùa. Tổng lượng mưa thực tế mùa mưa là 1.325mm, bắt đầu từ 16/v và kết thúc vào 21/x (kéo dài 164 ngày). Mùa mưa trùng với mùa lũ gây ngập úng, cản trở quá trình sản xuất ở hầu hết diện tích đất canh tác.

                  Tài nguyên:

                  Tài nguyên đất: Theo kết quả khảo sát, đo vẽ bản đồ đất toàn quốc tỷ lệ 1/25.000 của Vụ Quy hoạch năm 1998

                  Toàn khu vực có 3 nhóm thửa, được đánh dấu 9 đơn vị trên bản đồ thửa, trong đó nhóm đất phù sa là 3063 ha (chiếm 7,11% DTTN), nhóm đất xám là 15523 ha (chiếm 36,02% diện tích tự nhiên), nhóm đất chua Nhóm 24024 ha (chiếm 55024% diện tích tự nhiên). hecta).

                  Xem Thêm: Vị trí treo đồng hồ chuẩn phong thủy ở tất cả các phòng bạn đã biết?

                  Đất đai ở Đức Huệ được xếp vào loại kém phù hợp hoặc cần cải tạo để sản xuất lúa, mía, lạc, đậu 2 vụ nên năng suất sinh trưởng và phát triển của cây trồng thấp hơn so với đất tốt (đất phù hợp.sa ). Vì vậy đây cũng là hạn chế của sản xuất nông nghiệp.

                  Đất ở Đức Huệ được hình thành bởi hai loại trầm tích: trầm tích phù sa trẻ (Holocen) và phù sa cổ (Pleistocen), phần lớn là trầm tích Holocen, chứa vật liệu sinh phèn.

                  Trầm tích Holocen bao phủ hơn 60% diện tích tự nhiên của vùng, bao phủ các trầm tích phù sa cổ.

                  Các mẫu phù sa cổ bao phủ gần 36 phần trăm diện tích tự nhiên.

                  Trầm tích không phân chia chiếm khoảng 4% diện tích tự nhiên.

                  Vì vậy, khi xây dựng các công trình hạ tầng cần tính toán đầu tư để đảm bảo tính ổn định, bền vững.

                  Tài nguyên rừng: Năm 1995, diện tích rừng chỉ có 676 ha, trong đó tràm 510 ha, đến năm 2000 diện tích rừng tăng lên 5.931 ha (tỷ lệ che phủ 14,69%), kể cả cây lâu năm, trong đó bạch đàn 2.535 ha. , tràm bông vàng 510 ha 2.437 ha, tràm bông vàng 959 ha. Từ năm 1997 đến năm 1999 trồng rừng mới, trữ lượng không lớn.

                  Tài nguyên động vật dưới tán rừng đang dần được phục hồi là kết quả đáng ghi nhận của các quy hoạch 327/ct, 773/ttg và 661, đồng thời góp phần sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Chẳng hạn như khôi phục hệ sinh thái nội tại của đất phèn.

                  Nguồn lợi thủy sản: Sau khi Viện Nghiên cứu Thủy sản II điều tra, có ý kiến:

                  Các thủy vực ở khu vực Đức Huệ có các quần thể loài đặc trưng như: tảo lục, tảo charophyte, côn trùng thủy sinh, quần thể tôm cá nước ngọt.

                  Có 334 loài thủy sinh, trong đó có 181 loài tảo, 93 loài động vật phù du và 60 loài động vật đáy.

                  Ở sông Đông Hà và sông Cổ Đông có 55 loài cá và 9 loài tôm, trong đó cá đồng và tôm càng xanh có giá trị kinh tế nhưng sản lượng không lớn.

                  Hơn nữa, do môi trường nước nội địa ngày càng ngọt hóa, độ chua và thời gian tác động của phèn giảm, tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường sống và phát triển của các loài thủy sản, mở ra hướng chuyển đổi mới. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng – vật nuôi.

                  Tài nguyên khoáng sản: Theo số liệu khảo sát địa chất thổ nhưỡng, tài nguyên khoáng sản khu vực Đức Thuận rất nghèo nàn.

                  Hiện nay, một số thung lũng phèn có than bùn, tập trung ở xã Mỹ Quy Tây, ở dạng nhuyễn thể xanh, độ dày than bùn 0,75-1,50m. Thành phần của than bùn ít tro, nhiều mùn và khoáng chất cao, có thể sử dụng làm phân bón hoặc chất đốt, tuy nhiên nếu muốn phát triển và tận dụng cần tính toán kỹ, bởi việc khai thác than bùn sẽ tạo ra các điều kiện làm tăng quá trình oxy hóa phèn, giảm trị số pH, tăng độ phì nhiêu của dung dịch đất.

                  Trữ lượng cát trên sông và sông Đông từ cửa rạch Tràm đến đầu rạch Trà Cú Thượng khoảng 1 triệu m3, nhưng việc khai thác phải được quản lý chặt chẽ để không làm thay đổi dòng chảy, hư hỏng môi trường.

                  p>

                  Dân số: Dân số trung bình của huyện Đức Thuận năm 2000 là 62.567 người, mật độ dân số là 145 người/km2, chỉ bằng 50% mật độ dân số trung bình của tỉnh Long An (294 người/km2). Do đó, quận Đức Thuận dân cư thưa thớt, đặc biệt dân số thành thị chỉ có 5.606 người, chiếm 8,96% tổng dân số (chỉ bằng 1/3 dân số thành thị cả nước) và dân số nông thôn là 56.912 người (chiếm 90,9%).Tốc độ tăng trưởng là 1,36%/năm. Điều đáng chú ý là phần lớn cư dân đến đây định cư sau năm 1975 (dân kinh tế mới) lao động cần cù nhưng thiếu kinh nghiệm, phẩm chất văn hóa và nghề nghiệp chưa cao.

                  1. Vùng Gỗ
                  2. Mộc hóa là một huyện thuộc tỉnh Long An. Cách thành phố Tân An khoảng 70 km, đây là khu vực thuộc quận Dong Thame hàng năm bị ảnh hưởng bởi lũ lụt. Ngày 18 tháng 3 năm 2013, một phần diện tích và dân số của huyện Mù Hồ bao gồm thị trấn Mù Hồ và một số xã lân cận bị chia cắt, tỉnh Long An xây dựng bức tường tầm nhìn mới.

                    Xem Thêm : Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa năm nào? Ở đâu và như thế nào?

                    wooden là thủ phủ của tỉnh Kiến Tường cũ thời Việt Nam Cộng Hòa từ 1956-1975 (tỉnh lị mang tên “Wood”). Năm 1976, tỉnh Kiên Siang được giải thể và sáp nhập vào tỉnh Long An. Năm 2013, 37 năm sau khi mất hẳn tên gọi, di tích Kiến Tường tái hiện dưới tên gọi của một thị trấn mới thành lập thuộc tỉnh Long An: thị trấn Kiến Tường.

                    Vị trí:

                    Nó tiếp giáp với quận Thanh Hoa ở phía đông và thị trấn Jianxiang ở phía tây. Phía Bắc giáp huyện Khong Pong, tỉnh Svay Rieng, Campuchia. Phía nam giáp huyện tân thành

                    1. Huyện Danhhong
                    2. Tân hưng là một huyện thuộc tỉnh Long An. Tân Hưng nằm trong vùng trũng của Đồng Tháp Mười, thường xuyên bị ngập úng vào mùa lũ hàng năm. Cơ sở hạ tầng còn hạn chế, giao thông chủ yếu bằng đường thủy, kinh tế trong vùng còn rất khó khăn. Ngoài những vùng trũng, trong vùng còn có một số đồi cao, có nhiều di tích khảo cổ thuộc nền văn hóa Óc eo và Vương quốc Phù Nam như đồi goon, cồn miến, súng… Nổi tiếng nhất là vùng đất ngập nước sen khu vực bảo vệ trong khu vực.

                      Vị trí: Khu vực nằm ở phía Tây của tỉnh Long An, phía Bắc giáp Campuchia, có đường biên giới dài 15,22 km, thuộc địa phận 3 xã: Hưng Điền, Hưng Điền B và Hưng Hà. miền Nam. Đó là huyện tam nông và tháp mười (đồng tháp). Phía đông và đông bắc giáp huyện vĩnh hưng. Phía nam giáp huyện tân thành, huyện mộc.

                      Hành chính: Huyện Xinxing có 1 thị trấn và 11 xã: Huyện: Thị trấn Xinxing. Xã: hưng điện b, hưng điện, hưng hà, hưng thanh, thanh hưng, vinh bửu, vinh châu a, vinh châu b, vinh đại, vinh lợi, vinh thanh.

                      Kinh tế: Xinxing là vùng sâu, vùng xa của tỉnh Long An. Đây là nơi lũ đến sớm nhưng rút chậm. Do đó, nhân dân gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, kinh tế toàn vùng chủ yếu vẫn là nông nghiệp, do thực hiện tốt các công trình thủy lợi nên sản xuất nông nghiệp của toàn vùng tăng dần qua các năm. Nếu năm 2000 diện tích trồng lúa 2 vụ là 46.933 ha, sản lượng lúa đạt 205.000 tấn, năng suất bình quân trên đơn vị diện tích khoảng 4,3 tấn/ha thì đến năm 2010 diện tích trồng lúa đạt 65.138 ha. Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào sản xuất như: vừng, ngô (bắp),….

                      Xã hội: Đầu tư cho giáo dục đúng mức và có chiều sâu, học sinh không phải học hè do phải nghỉ mùa lũ, không còn dạy ba ca, hệ thống trường lớp học được xây dựng kiên cố, vững chắc công tác xây dựng trường tranh tre nứa lá đạt chuẩn quốc gia từng bước được thực hiện, công tác xã hội hóa giáo dục tiếp tục được mở rộng. Huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở.

                      Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển. Nếu như năm 2000 các bệnh viện tuyến huyện còn thiếu thốn mọi mặt, cơ sở vật chất chưa đảm bảo, chỉ 50% số trạm y tế xã có bác sĩ thì đến năm 2010, bệnh viện đa khoa 50 giường được xây dựng và nâng cấp thành bệnh viện đa khoa 100 giường với trang thiết bị hiện đại, 100% xã đều có bác sỹ, 9/9 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Chương trình y tế quốc gia đã đạt được các mục tiêu hàng năm. Đội ngũ y, bác sỹ từng bước được chuẩn hóa đảm bảo phục vụ công tác khám, chữa bệnh cho quần chúng nhân dân.

                      1. Quận Vĩnh Hưng
                      2. Vĩnh hưng là một huyện thuộc tỉnh Long An. Huyện Vĩnh Hưng nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Long An, thuộc vùng sâu của Đồng Tháp Mai, hàng năm chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt. Đường biên giới giữa Vĩnh Hing và Campuchia dài 45,62 km (31,1% tổng chiều dài biên giới tỉnh Long An), có vị trí cực kỳ quan trọng trong xây dựng kinh tế và củng cố quốc phòng.

                        Vị trí địa lý: Khu vực nằm ở phía Tây tỉnh Long An, phía Bắc giáp tỉnh Svay Rieng (Mỏ Vẹt), phía Tây Nam giáp huyện Xinxing, phía Đông và Đông Nam giáp thị trấn Jianxiang.

                        Xem Thêm: Núi Voi ở đâu? Kinh nghiệm du lịch núi Voi (Hải Phòng) cho người

                        Hành chính: Toàn huyện có 1 thị trấn và 9 xã: Thị trấn Yongxing, Thị trấn Qingxing, Thị trấn Xingdiana, Thị trấn Yongzhi, Thị trấn Taizhi, Thị trấn Taipingzhong, Thị trấn Yongping, Thị trấn Yongshun, Thị trấn Xuanping, Thị trấn Xuanping Thị trấn Pingxi.

                        1. Thanh Hóa
                        2. Thanh Hóa là một vùng biên giới nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Long An thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, là một trong 6 huyện của huyện Đồng Tháp nên hàng năm thường xuyên bị ảnh hưởng bởi lũ lụt. Lũ lụt, cách thành phố Tân An 29 km về phía bắc dọc theo Quốc lộ 62. Nó giáp hạt Deshun ở phía đông bắc và Sangrong-Sai Rieng-Campuchia ở phía bắc, và đường biên giới dài 9,5 km. Phía tây và tây nam giáp mộc hoa và tân thành. Nó giáp thủ đô về phía đông. Phía Nam giáp Tân Phước, Tiền Giang.

                          Điều kiện tự nhiên:

                          Diện tích tự nhiên của khu vực khoảng 46.826 ha. Dân số là 53.597 (01/04/2009). Các dân tộc: Kinh, Môn, He, Khmer, Thái, Thái, Nông, Sansu, Chăm.

                          Đất: Có 4 loại đất chính: phù sa, phèn, vôi và xáo trộn. Trong đó: đất chua có diện tích lớn, khoảng 34063ha, chiếm 72,7% diện tích đất tự nhiên toàn vùng; đất phù sa chỉ khoảng 4566ha, chiếm 9,8%.

                          Quản trị:

                          Thanh Hóa có 1 thị trấn và 10 xã với 48 xã và thôn nhỏ: Huyện lỵ: Thị trấn Thanh Hóa có 4 xã. Xã: xã tân đông có 4 thôn, xã tân hiệp có 4 thôn, xã. xã tân tay có 5 ấp, xã thanh an có 4 ấp, xã thanh phú có 4 ấp, xã thanh phước có 4 ấp, xã thuận bình có 4 ấp, xã thuận nghĩa hòa có 5 ấp, xã thủy đông có 4 ấp và các xã. Thủy Tây có 6 thôn nhỏ.

                          Kinh tế và xã hội:

                          Cơ sở hạ tầng còn thiếu và chưa đồng bộ là trở ngại lớn cho sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng. Trong địa giới kinh tế của tỉnh Long An, Thanh Hóa thuộc địa phận 4 (gồm Thanh Hóa, một phần huyện Pắc Thủ Thuận và huyện Tân Thành). Lấy phát triển nông, lâm, ngư nghiệp làm chính, đó là: ổn định sản xuất lúa (đx-ht), luân canh lúa – đay, lâm nghiệp (phát triển cây tràm) và nước giải khát thủy sản.

                          Sau khi thành lập thành phố, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thanh Hóa gặp rất nhiều khó khăn: diện tích đất nông nghiệp ít, hầu hết bị ô nhiễm phèn nặng, các công trình thủy lợi trên đất ruộng đều bị thu hẹp. thiếu và xuống cấp, cơ sở hạ tầng yếu kém. Toàn vùng chỉ có Tỉnh lộ 49 là tuyến đường duy nhất từ ​​thị xã Tân An đi huyện Đồng Tháp, giao thông đường bộ bị chia cắt, giao thông đường thủy chủ yếu dựa vào thực vật sông nước và một số kinh tuyến chính nên vô cùng khó khăn. đi lại khó khăn.

                          Lúc bấy giờ, cả vùng chỉ có chợ Tuyên Nhân là có điện và mạng lưới thông tin liên lạc. Trường học, trạm y tế ở trong tình trạng tạm bợ, công trình nước sạch hầu như không có. Hoạt động cơ bản không có sẵn. Tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ quy mô nhỏ và phi tập trung. Đồng thời thường xuyên xảy ra lũ lụt gây thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản của nhân dân.

                          Trước tình hình đó, lãnh đạo huyện cùng quần chúng vận động các nguồn vốn đầu tư, tích cực chuyển đổi nông nghiệp, chăn nuôi, kêu gọi cả tỉnh, cả nước quan tâm đầu tư. Đến nay, diện tích đất canh tác trong vùng đã tăng từ 9.759 ha lúa một vụ lên 17.000 ha lúa vụ 2. Năm 2008, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt hơn 140.000 tấn, cao kỷ lục. Lương thực bình quân đầu người đạt 2,6 tấn/người/năm, gấp 4 lần năm 1989.

                          Hệ thống công trình tiết kiệm nước tương đối hoàn chỉnh, việc xây dựng các đập ngăn cách đã hoàn thành tưới 600 ha lúa, phấn đấu đến cuối năm 2009 đạt hơn 8.000 ha.

                          Mức độ cơ giới hóa nông nghiệp tiếp tục được mở rộng. Toàn vùng có hơn 300 máy cày, hơn 50 máy gặt đập liên hợp, hàng nghìn máy bơm, phun thuốc nổ, nhiều lò sấy, xay lúa, tỷ lệ lao động giảm từ 90% xuống 50%.

                          Đặc biệt trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đang phát triển theo hướng đa dạng hóa và áp dụng hiệu quả chế độ chăn nuôi gia súc. Từ những vật nuôi truyền thống như lợn, gà, vịt đến bò, cừu và các loại gia súc khác, một số nông dân còn mạnh dạn đầu tư nuôi các loại thỏ đặc sản như ba ba, trăn, đóng góp cho ngành chăn nuôi. thu nhập và phát triển kinh tế gia đình. Nghề nuôi trồng thủy sản cũng tăng tốc, từ chỗ dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, người dân đã đầu tư xây dựng nhiều ao, đầm với tổng diện tích hàng trăm ha để nuôi cá nước ngọt. Tràm đang trở thành loài cây chủ lực phát triển kinh tế lâm nghiệp, với tổng diện tích khoảng 16.000 ha.

                          Huyện cũng đã được chính phủ phê duyệt 2 cụm công nghiệp tại Thuận Nghĩa và Tân Đông với tổng diện tích 450 ha, ngoài ra còn có 2 cụm tiểu thủ công nghiệp tại thị trấn Thụy Đông và thị trấn Thanh Hóa với tổng diện tích là 120 ha . Thanh Hóa đã có nhiều dự án đầu tư như Nhà máy Thực phẩm Quốc tế Jiamei, Nhà máy Bột giấy Nam Phương, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, Công ty Đầu tư Hạ tầng Nam Long…

                          Một huyện thuộc Đồng Tháp Mai, Tỉnh Thanh Hóa Nền kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp trồng lúa nước. Ngoài ra, khu vực có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp và thủy sản, chủ yếu là trồng tràm và nuôi trồng thủy sản nước ngọt.

                          1. Quận Chanji
                          2. Cần Giuộc là vùng hạ lưu nằm ở phía Đông Nam tỉnh Long An. Cần Giuộc nằm ở vòng ngoài của Vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, là cửa ngõ của Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long qua Quốc lộ 50, từ Biển Đông qua cửa sông Soài Soái, giao thương hệ thống đường thủy với các tỉnh phía Nam.

                            Điều kiện tự nhiên: Nằm ở phía đông của tỉnh, diện tích tự nhiên 210.1980 km2, dân số trung bình 169.020 người (2009), mật độ tương đối đạt 804 người/km2 ; Phía Bắc – Đông Bắc giáp quận Bình Thạnh và huyện Nhà Bè (dài 32,5 km), phía Đông giáp huyện Cần Đước, chung sông Soài (dài 7,91 km), phía Tây giáp huyện Bến Lức, phía Bắc giáp huyện Cần Đước ở phía Nam và Tây Nam.

                            Điều kiện khí hậu và thời tiết:

                            Khí hậu cần thiết là khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của đại dương, độ ẩm cao, đủ nắng, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ cao, tổng nhiệt độ cao, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn. Nhiệt độ năm nay thấp và ôn hòa. Nhiệt độ cao quanh năm, nhiệt độ trung bình năm 26,90°C, nhiệt độ trung bình mùa khô 26,50°C, mùa mưa 27,30°C. Các tháng nóng nhất là tháng 4 và tháng 5 (29 0 c) và mát nhất là tháng 12 và tháng 1 (24,7 0 c). Nhiệt độ tối đa hàng năm có thể đạt tới 400°C và nhiệt độ thấp nhất là 140°C. Hầu như có nắng quanh năm, với tổng số giờ nắng là 2.700 giờ/năm. Một năm được chia thành hai mùa rõ rệt:

                            Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, tổng lượng mưa chiếm 95-97% lượng mưa cả năm. Tổng lượng mưa trung bình 1.200 – 1.400 mm/năm. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9 và tháng 10.

                            Từ tháng 12 đến tháng 4 là mùa khô, lượng mưa mùa này chỉ chiếm 3-5% tổng lượng mưa cả năm.

                            Độ ẩm không khí trung bình năm là 82,8%, về mùa khô độ ẩm tương đối thấp hơn: 78%. Lượng bốc hơi trung bình 1.204,5 mm/năm. Có 2 hướng gió chính: gió Đông Bắc thịnh hành vào mùa khô, gió Tây Nam thịnh hành vào mùa mưa.

                            Địa hình và tài nguyên đất:

                            Địa hình mang tính chất châu thổ ven cửa sông, tương đối bằng phẳng nhưng bị sông rạch ngăn cách. Địa hình thấp (0,5-1,2m so với mực nước biển), sườn dốc đều và hơi gợn sóng, địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Sông Shaqu (còn gọi là sông Cần Giuộc) dài 32 km, chảy theo hướng bắc nam, đổ ra sông Soài Rạp, chia Cần Giuộc thành hai vùng có đặc điểm tự nhiên và kinh tế khác nhau. Phần trên cao 0,8-1,2m so với mực nước biển, địa hình tương đối cao. Hiện nay, phần lớn diện tích đã được ngăn mặn nhờ hệ thống công trình thủy lợi, đập hạ long, đập Phước định yên và cống xử lý, cống đập lược gà.

                            Khu vực thượng nguồn bao gồm: thị trấn Cần Giuộc và 9 xã là Tân Kim, Trường Bình, Long An, Thuận Thành, Phước Lâm, Mỹ Lộc, Phước Hậu, Long Thường, Phước Lý

                            Vùng hạ có 7 xã: long phụng, đông thành, tân tập, phuoc vinh đông, phuoc vinh tay, phuoc lai, long hau. Vùng dưới có cao độ 0,5 – 0,8. m , sông rạch có mật độ tự nhiên dày đặc. Một số vùng trũng thấp là lòng sông cổ không được phù sa bồi lấp, độ cao chỉ từ 0,2 – 0,4m. Công trình thủy lợi, đập ông hiệu, bờ bao dài 11,85 km ngăn mặn, trữ nước ngọt Hơn 2.000 ha sản xuất 2 vụ lúa/năm. Các vùng đất thấp còn lại thích hợp cho sản xuất lúa một vụ và nuôi trồng thủy sản.

                            Đất được hình thành bởi phù sa non và cỏ sông của hệ thống sông Đồng Nai, tạo thành vùng châu thổ gần cửa sông với các đặc điểm sau:

                            Đất mặn – kiềm chiếm 48,34% diện tích tự nhiên với diện tích 10.103 ha, có thành phần cơ giới nặng (tỷ lệ sét vật lý cao hơn 50 – 60%) và hàm lượng các chất độc cao (cl – , al + ++, fe ++, …), ít phù hợp với sản xuất cây trồng cạn, nhưng là nơi trồng lúa thơm, lúa đặc sản (tài nguyên, hoa thơm, lài – khaodawk mali, …) và nuôi nước lợ hiệu quả —— Nước lợ (tôm sú, cá nước lợ, cua huỳnh đế…) 4.132 ha, đất phù sa, phân bố chủ yếu ở các xã vùng cao, là loại đất tốt nhất có thành phần cơ giới trung bình, do khai thác lâu năm nên tổng n, p , Hàm lượng k lệch trung bình, ph kcl 5,5-6,2, đặc biệt hàm lượng một số nguyên tố vi lượng khá cao (bo, coban, kẽm, molypden). Thích hợp trồng các loại rau đặc sản, lúa chất lượng cao do tính chất thổ nhưỡng tạo lợi thế cho các loại hàng hóa có hương vị đặc trưng.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giải Đáp Cuộc Sống