ĐÔI NÉT VỀ LÂM ĐỒNG

ĐÔI NÉT VỀ LÂM ĐỒNG

Lâm đồng ở đâu

Lâm Đồng là một trong 5 tỉnh thuộc vùng cao nguyên Trung phần và là tỉnh có diện tích lớn thứ 7 cả nước, tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Lâm Viên-di Linh nằm trên cao nguyên cao nhất miền Trung với độ cao 1.500m so với mực nước biển, là tỉnh duy nhất của miền Trung không có đường biên giới quốc tế. Đà Lạt, tỉnh lỵ, cách thành phố Hồ Chí Minh 300 km về phía bắc và cách cảng biển Nha Trang 210 km về phía tây. Năm 2010, tỉnh Lâm Đồng trở thành tỉnh đầu tiên ở Cao nguyên miền Trung có 2 đô thị trực thuộc (Đà Lạt và Bảo Lộc).

Bạn Đang Xem: ĐÔI NÉT VỀ LÂM ĐỒNG

1. Địa lý

    1. Vị trí
    2. Tỉnh Lâm Đồng là tỉnh miền núi cao nguyên Trung Nam Bộ, độ cao trung bình từ 800 – 1000 mét, diện tích tự nhiên 9.772,19 km2, địa hình tương đối phức tạp, chủ yếu do cao nguyên là cao nguyên, còn núi cao và thung lũng bằng phẳng đã tạo nên sự khác biệt về khí hậu, thổ nhưỡng, động thực vật… Chính những yếu tố tự nhiên đó đã tạo nên cảnh quan kỳ thú của Lâm Tòng.

      – Phía đông giáp tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận

      – Phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai

      – Nam – Đông Nam tỉnh Bình Thuận

      – phía bắc giáp tỉnh Đắk Lắk

      Lintong nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực thượng nguồn của 7 hệ thống dẫn nước lớn, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – khu vực năng động, có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, tiềm năng thị trường rất lớn. Có thể chia tỉnh thành 3 vùng với 5 lợi thế: phát triển cây trồng kinh tế trung và dài ngày, lâm nghiệp, khai khoáng, công nghiệp du lịch – dịch vụ và chăn nuôi.

      1.2 Địa hình

      Đặc điểm chung của Lâm Động là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là đồng bằng, núi cao và các thung lũng nhỏ bằng phẳng, tạo nên sự khác biệt về khí hậu, thổ nhưỡng, động thực vật… và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Động. Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là có sự phân tầng rõ rệt từ phía Bắc và phía Nam.

      – Phía bắc của tỉnh là vùng núi cao, cao nguyên Langbian, có độ cao từ 1300m đến hơn 2000m như Bidu (2287m) và Langbian (2167m).

      – Phía Đông và Tây là núi thấp (500 – 1.000m so với mực nước biển). – Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Diling-Bảo Lộc và bán đồng bằng.

        1. Khí hậu
        2. Lâm Thông nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu thay đổi theo độ cao, một năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. năm sau.

          Nhiệt độ rất khác nhau giữa các vùng, càng lên cao, nhiệt độ càng lạnh. Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh từ 18-250 độ C, khí hậu ôn hòa mát mẻ quanh năm, chu kỳ năm thường ít biến động.

          Lượng mưa trung bình 1750-3150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình năm 85-87%, số giờ nắng trung bình năm 1890-2500 giờ. Đặc biệt, Lintong thuộc vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, thuộc khí hậu ôn đới, cách trung tâm thành phố lớn và đồng bằng đông dân cư không xa.

          2. Lịch sử

          Vùng đất Lâm Đồng ngày nay đã có cư dân sinh sống từ lâu đời, con cháu của họ cho đến lúc bấy giờ là những cộng đồng cư dân mạ điện, cơ ho, mnông, chu ru, trải xòe,…. Phương thức sản xuất chủ yếu của thổ dân là du canh du cư, đốt rừng làm rẫy, kinh tế mang tính chất tự cung tự cấp. Trồng trọt là ngành sản xuất chính, ngoài săn bắn hái lượm, chăn nuôi gia súc gia cầm, các nghề thủ công như dệt, rèn, đan lát mới bắt đầu, giao lưu kinh tế còn rất hạn chế.

          Xem Thêm: Giới thiệu khái quát thành phố Vũng Tàu

          Chiến tranh ngày càng khốc liệt, dòng người di cư từ các tỉnh miền Trung đổ về Lâm Đồng ngày càng nhiều, điều này cũng thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển. Cho đến giữa thập niên 1960, Lâm Đồng có khoảng 8.000 ha chè và một lượng lớn rau thương phẩm cung cấp cho Sài Gòn và các tỉnh miền Trung. Đồng thời, chiến tranh cũng ngăn cản sự phát triển bền vững của nông nghiệp, làm giảm diện tích đất canh tác. Với việc thực hiện chủ trương dồn dân, trẻ hóa làng nghề, các sản phẩm nông, lâm nghiệp ngày một giảm, khâu tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn.

          Sản xuất công nghiệp giai đoạn này tuy có phát triển so với trước năm 1954 nhưng quy mô còn nhỏ, chủ yếu là chế biến chè, chế biến gỗ, thủy điện, sứ; chế biến mứt, nấu rượu, làm đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ… Thủ công mỹ nghệ chủ yếu phát triển ở Đà Lạt, còn hầu hết các khu vực khác chưa phát triển.

          3. Quản trị

          Lintong quản lý 2 thành phố trực thuộc tỉnh, 10 huyện và 147 đơn vị hành chính cấp thị trấn, bao gồm 116 xã, 18 phân xưởng và 13 thị trấn[14].

          Danh sách các đơn vị hành chính tỉnh Lâm Đồng

          Tên

          Xem Thêm : Top 10 tiệm uốn tóc đẹp rẻ ở TPHCM

          Dân số (người) 2009

          Quản trị

          Thành phố (2)

          Đà Lạt

          205.287

          12 khu vực bầu cử và 4 xã

          Kho báu quý giá

          148,567

          6 huyện và 5 xã

          Quận (10)

          Bảo Lâm

          109.236

          Xem Thêm: THÀNH PHỐ MADRID – NIỀM TỰ HÀO CỦA XỨ SỞ BÒ TÓT

          1 thị trấn 13 xã

          Cổ tích mèo

          37.112

          2 thị trấn và 9 xã

          Xào

          154,622

          1 thị trấn 18 xã

          Tên

          Xem Thêm : Top 10 tiệm uốn tóc đẹp rẻ ở TPHCM

          Dân số (người) 2009

          Quản trị

          Dangrong

          38.407

          Xem Thêm : World Cup 2022 tổ chức ở đâu?

          8 xã

          Dahua

          33.450

          2 thị trấn và 8 xã

          Chết tiệt

          43,810

          Xem Thêm: Algeria là nước nào? Cùng tìm hiểu về đất nước Algeria

          1 thị trấn và 10 xã

          Tích cực duy nhất

          93,702

          2 thị trấn và 8 xã

          Nhân phẩm

          166,393

          1 thị trấn và 14 xã

          Dương may mắn

          19.298

          1 thị trấn và 5 xã

          Đại học

          137.690

          1. Thị trấn và 14 xã
          2. 4. Nền kinh tế

            Lâm Đồng có diện tích trồng chè lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên, một phần lớn thu nhập của tỉnh là từ phát triển du lịch và xuất khẩu cà phê. Trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Lâm Đồng đứng thứ 61/63 tỉnh[16], đến năm 2012 đứng thứ 54/63 tỉnh của Việt Nam.

            9 tháng đầu năm 2012, GDP tính theo giá so sánh 1994 đạt 7.247 tỷ đồng, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 1.752 tỷ đồng, công nghiệp – xây dựng đạt 276.080 tỷ đồng và dịch vụ đạt 2.733,7 tỷ đồng. Cũng trong thời gian này, GDP theo giá hiện hành đạt 19.366 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 6.104 tỷ đồng, công nghiệp và xây dựng đạt 4.515 tỷ đồng, dịch vụ đạt 8.747 tỷ USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 197,7 tỷ đồng, tăng 9,6%, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 8,55 nghìn tỷ đồng, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 2,8865 tỷ đồng, lượng khách du lịch đạt 2,98 triệu lượt người, số lao động có việc làm là 22.663 người.

            5. Dân số và Tôn giáo

            5.1 Dân số

            Tính đến cuối năm 2012, dân số tỉnh Lâm Đồng là 1.233.430 người, là địa phương đa dân tộc trong cả nước, có 43 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh số. Khoảng 77%, Kơho chiếm 12%, Mạ chiếm 2,5%, Nùng chiếm gần 2%, Thái 2%, Hoa 1,5%, Churu 1,5%. Do đó, Lâm Đồng bằng có nhiều lễ hội văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc như Lễ hội Cồng chiêng, Lễ hội mừng lúa mới, Lễ hội chọi trâu… Đến nay, hai năm một lần, Lâm Đồng tổ chức Festival Hoa Đà Lạt và Festival Trà Đồng cấp quốc gia.

            Lâm Đồng là vùng đất mới thu hút dân tứ xứ đến lập nghiệp, dân cư ở đây không ổn định và biến động liên tục, những năm gần đây hiện tượng di dân tự do từ các tỉnh thành trong cả nước đã giảm ở Lâm Đồng , nhưng nó vẫn còn rất lớn. Trung bình có khoảng 5.000 người nhập cư tự do vào Lâm Đồng trong giai đoạn 2001-2005.

            5.2 Tôn giáo

            Tính đến ngày 01/04/2009, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 12 tôn giáo khác nhau, với số dân là 599.461 người. Trong số đó, Công giáo 303.761 người, Phật giáo 199.255 người, Tin lành 83.542 người, Cao Đài 12.606 người, Phật giáo 103 người, Hồi giáo 75 người, Bà la môn giáo 72 người và tín đồ 27 người. Si’an, Xiaodao, 11 Đạo sĩ Ming, 5 Đạo sĩ Bahá’í, 3 Đạo sĩ Mingli, 1 Tịnh độ tông, Tổng hội Phật giáo Việt Nam.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giải Đáp Cuộc Sống