Giới thiệu khái quát huyện Hoài Nhơn – Tỉnh Bình Định

Giới thiệu khái quát huyện Hoài Nhơn – Tỉnh Bình Định

Hoài nhơn ở đâu

i.Điều kiện tự nhiên:

Bạn Đang Xem: Giới thiệu khái quát huyện Hoài Nhơn – Tỉnh Bình Định

1. Vị trí địa lý:

Huyện Hải Nhân nằm ở phía bắc tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn 87 km. Quốc lộ 1a và đường sắt thống nhất Bắc Nam đi qua địa bàn, là cửa ngõ giao lưu kinh tế quan trọng phía Bắc tỉnh Bình Định, là đầu mối giao thông quan trọng vào Hội An, khu vực An Lão và vùng đất truyền thống cách mạng. có tiềm năng lớn về đất đai, lao động và tính chuyên nghiệp.

Tọa độ địa lý là từ 1080 56′ đến 1090 06’50” kinh độ Đông và 140 21′ 20″ đến 140 31’30” vĩ độ Bắc.

* Địa giới hành chính:

– Giáp huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi).

– Phía Nam giáp huyện Phù Mỹ – (tỉnh Bình Định).

– Phía tây giáp Hội An và huyện An Lão.

– Phía đông là biển Hoa Đông.

* Đơn vị hành chính: Toàn huyện có 17 đơn vị hành chính, gồm 15 xã và 2 thị trấn: Huishan, Huizhou, Beihui, Huifu, Huihao, Huixin, Hui De, Hui My, Xuan Xuan , hoài thanh, hội thành tay, hội hương, hội hải, tam quan nam, tam quan bắc và 02 thị trấn: bong sơn, tam quan.

2. Địa hình:

Địa hình khu vực Hoài Nhơn có xu thế thấp dần về phía Đông Bắc và được chia thành 2 dạng địa hình chính:

– Địa hình đồng bằng: Được bao bọc bởi các dãy núi tạo thành thung lũng có 3 sườn núi (bắc, tây, nam) cao trung bình 8-10m, điểm cao nhất giáp núi là 25m, điểm thấp nhất là 1m ra biển.

– Địa hình núi thấp: Các núi nối với nhau theo hình vòng cung, có độ cao trung bình 400m, nhỏ nhất là 100m, cao nhất là 725m.

Nhìn chung, hai dạng địa hình này có những đặc điểm khác nhau, ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn.

3. Khí hậu:

Xem Thêm: Thông tin Tiền Giang – Các tỉnh miền tây

Theo số liệu của trạm khí tượng thủy văn Hội An, khí hậu được chia thành 2 mùa rõ rệt:

– Mùa khô: Từ tháng 1 đến tháng 8, số giờ nắng trung bình 8,5 giờ/ngày, nhiệt độ 26,90℃, lượng mưa 120mm/tháng, độ ẩm 79%. Đặc biệt vào mùa này có khí hậu Tây khô nóng kéo dài khoảng 35-40 ngày.

– Mùa mưa: Từ tháng 9 đến tháng 12, ngày nắng trung bình 4,5 giờ/ngày, nhiệt độ 25,60 độ, lượng mưa 517 mm/tháng, độ ẩm cao tới 86%. Đặc biệt mùa này có gió mùa đông bắc và bão với tốc độ gió mạnh, có dòng xoáy, mưa lớn, lũ lụt.

4. Thủy văn:Có một con sông tên là giang, do hợp lưu của sông Kim Sơn (hoài an) và sông An Lão (an lao) hợp lưu, chảy qua huyện Hoài Nhân rồi đổ ra cửa sông Andu (hoài nhon) . mùi). Đây là con sông lớn nằm ở phía Nam của huyện, có lưu lượng trung bình 58,6 mét khối/giây, tương đương 1844 mét khối nước/năm. Ngoài ra còn có một số sông suối nhỏ phân bố chủ yếu ở phía bắc huyện.

5. Đất đai:

Xem Thêm : Nên mua iPhone cũ ở đâu uy tín, đảm bảo chất lượng tại TP.HCM?

– Tổng diện tích tự nhiên của Hoài Nhân là 42.084,4 ha, đá mẹ có 3 loại chính là granit, gneiss và bazan, được phong hóa thành 9 nhóm đất chính chia thành 5 loại đất.

– Tính đến năm 2016, tình hình sử dụng đất toàn vùng:

+ Đất nông nghiệp: 14.878,2 ha.

+ Đất lâm nghiệp: 20.084,9 ha.

+ Đất nuôi trồng thủy sản: 281,0 ha

+ Đất chuyên nghiệp: 2.861,0 ha.

+ Đất ở: 1.552,2 ha.

5. Nguồn lợi thủy sản:

Hairen có đường bờ biển dài 24 km và hai cảng biển Đàm Tuyền và Andu. Vùng biển Hội An có khoảng 500 loài cá, trong đó có 38 loài cá kinh tế và nhiều loài đặc sản quý hiếm có giá trị xuất khẩu cao.

6. Tài nguyên rừng:

Hairen có hơn 20.084,9 ha đất lâm nghiệp, bao gồm 12.061,6 ha đất rừng sản xuất và 8.023,3 ha rừng trú ẩn

7. Khoáng sản:

Xem Thêm: Giới thiệu khái quát về tỉnh Lào Cai – timhieuvietnam.vn

Tương đối đa dạng như: cát trắng (hoài châu), mỏ vàng (hoài đức), đá xanh (hoài châu bắc), granit (hoài phú), sét (hoài đức, hoài tân…), titan hòa tan trong vùng ven biển Xã..

Tôi . Dân số – Lực lượng lao động:

– Theo Niên giám thống kê 2017, thành phố Huiren có dân số hơn 211.340 người, mật độ dân số đạt 502 người trên mỗi km vuông. Cơ cấu nhân khẩu: 48,6% nam và 51,4% nữ.

– Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên: 141.644, Lao động từ 15 tuổi trở lên: 141.116, Lao động trong độ tuổi lao động: 117.240; Trong đó: Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản chiếm 52,24% (61.244), Công nghiệp và Xây dựng chiếm 21,10 % (24736 người), thương mại dịch vụ chiếm 26,66% (31260 người).

Hai. cơ sở hạ tầng.

Hiện 15/15 xã trên địa bàn huyện đã đạt chuẩn nông thôn mới. Thị trấn Fengshan đạt tiêu chuẩn trong năm đầu tiên và thị trấn Tanquan đạt tiêu chuẩn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội và các tầng lớp nhân dân. Phấn đấu huyện Hoài Nhân đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2019 và được công nhận đạt chuẩn đô thị loại IV.

1.Giao thông, di chuyển: Neren có hệ thống giao thông khá đồng bộ. Vùng có Quốc lộ 1a với tổng chiều dài khoảng 28,5 km, đường ven biển Renhai-Tanquan (tet 639) phục vụ quốc phòng, phát triển kinh tế biển và du lịch, đường 626, 630… Theo quy hoạch và đầu tư các công trình nâng cấp, hầu hết đã hoàn thành Đổ bê tông, hơn 90% cầu cống được kiên cố hóa, đảm bảo lưu thông, trao đổi hàng hóa giữa miền núi, đồng bằng và ven biển.

Ảnh: Cầu Regia – Đường 639

– Tuyến đường sắt liên hợp Bắc Nam chạy song song với quốc lộ 1a, đi qua 8 xã trên địa bàn, có tổng chiều dài 29 km, có 2 ga là ga Fengshan và ga Tanquan, thuận lợi cho việc ra vào. xuất cảnh của hàng hóa và hành khách. Tỉnh.

– Đường thủy: Với bờ biển dài hơn 24 km, cùng với hệ thống sông ngòi phong phú là lợi thế cho giao thông đường thủy và phát triển kinh tế đánh bắt, nuôi trồng thủy sản. Có các tuyến giao thông ven biển, sông Lai Giang và các tuyến giao thông đường thủy sông Tianzheng trong khu vực.

– Có 01 bến xe khách (bến xe Bồng Sơn) với diện tích bến 5.019m2, lưu lượng hành khách qua bến bình quân 1.000-1.200 lượt khách/ngày đêm.

Xem Thêm : Trùng roi là gì? Những kiến thức về trùng roi xanh bạn cần biết

– Cảng cá Tân Tuyền được đầu tư xây dựng có lợi thế cảng kín, tạo điều kiện tốt cho tàu thuyền neo đậu tránh gió, đánh bắt hải sản, giao lưu hàng hóa trong và ngoài nước, giao thương.

2.Tưới tiêu: Hệ thống hồ đập được nâng cấp đảm bảo nước tưới cho hơn 3200 ha sản xuất hoa màu. năm. Toàn vùng có 18 hồ chứa lớn nhỏ, 25 đập dâng, 1 đập ngăn mặn, 25 trạm bơm điện đảm bảo tưới cho hơn 90% diện tích gieo trồng quanh năm. Một đập kiểm soát mặn trên sông đang được xây dựng và dự kiến ​​sẽ hoàn thành vào cuối năm 2020.

Hệ thống đê bao chống xói lở bờ sông đang được xây dựng. Khi đưa vào sử dụng sẽ chống ngập úng cho khu vực ven sông của xã Hoài Đức, tt. Ở Fengshan, tôi nhớ mùa xuân, vẻ đẹp, hương thơm và biển cả.

Ảnh: Đê chắn sóng Bắc Tanquan

3.Bưu chính viễn thông: Trên địa bàn huyện có 14 điểm bưu điện văn hóa xã và 5 điểm bưu chính viễn thông, đồng bộ dịch vụ đa dạng, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu trao đổi thông tin, nhu cầu giao lưu trong nước và quốc tế. thông tin. Hệ thống hạ tầng viễn thông được đầu tư xây dựng và phát triển mạnh đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của xã hội, đặc biệt là dịch vụ điện thoại di động và Internet. Sóng điện thoại đã phủ sóng 17 xã, thị trấn.

4. Mứcđiện: Trên địa bàn huyện có 452 trạm biến áp, 662,26 km đường dây hạ thế, 99,7% hộ dân sử dụng điện bình thường. .Hệ thống cấp điện đầy đủ đảm bảo tiêu thụ điện năng cho các khu công nghiệp, xí nghiệp và đảm bảo cung cấp đủ điện liên tục cho 17 thị trấn trong toàn vùng.

Xem Thêm: Những tòa tháp Chăm – địa điểm check in lý tưởng tại Ninh Thuận

5. Cấp nước: Hội Nhơn là vùng đồng bằng ven biển nên nguồn nước sinh hoạt của một số cộng đồng dân cư bị ô nhiễm mặn, nhiễm phèn, nhất là vùng ven biển. Các xã vùng biển thiếu nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt của người dân trên địa bàn. Vì vậy, nhà nước đã đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước ngọt (Trạm xử lý nước hồ Mae Binh – Hội An) để cung cấp nước sạch cho người dân xã Tam Quan Bắc và một số khu vực khác của xã Hoài Hải, Hoài Hải. Mỹ, hoài, ba quýt. Công trình cấp nước sạch cho 9 thị trấn của tỉnh Bình Định được đầu tư và đưa vào vận hành năm 2009, cung cấp nước sinh hoạt cho 02 thị trấn Phụng Sơn, Tân Tuyền và một số thị trấn lân cận.

6.Giáo dục: Ngành giáo dục và đào tạo tiếp tục đầu tư phát triển về số lượng và chất lượng. Tính đến cuối năm 2018, trên địa bàn huyện có 7 trường THPT, 17 trường trung học cơ sở, 01 trường tiểu học-THCS, 25 trường tiểu học và 19 trường mầm non-mẫu giáo. Năm học 2017-2018, có 99,97% học sinh được xét tốt nghiệp tiểu học; 99,2% học sinh được xét tốt nghiệp. 1.342/2.480 học sinh dự tuyển vào lớp 10 công lập, tỷ lệ trúng tuyển 54,11% (điểm chuẩn vào lớp 10 huyện Hoài Nhân cao nhất tỉnh). Hơn 80%.

– Chất lượng dạy học được nâng lên rõ rệt, số học sinh giỏi các cấp tăng hàng năm, tỷ lệ giáo viên chấp hành đạt 98%. 17 thị trấn có 55/62 trường đạt chuẩn quốc gia. Trong đó, có 14/19 trường mầm non, 24/25 trường tiểu học, 17/18 trường trung học cơ sở. Công tác khuyến học, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng xã hội học tập tiếp tục được đẩy mạnh.

– Trên địa bàn huyện có các trường trung cấp nghề và trung tâm giáo dục thường xuyên dạy nghề đào tạo các nghề ngắn hạn như điện dân dụng, may, thú y… cho người lao động trên địa bàn huyện và giải quyết việc làm cho các vùng khác. các tỉnh.

7. Y tế: sức khỏe nhân dân được quan tâm, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được tăng cường. Huyện có 1 bệnh viện đa khoa, 1 trung tâm y tế huyện và 17 trạm y tế cộng đồng tại khu Phụng Sơn. Các đơn vị y tế trên địa bàn huyện làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, hoạt động các nhà thuốc tư nhân, năm 2018 tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện đạt 91%; 100% xã, thị trấn đạt và giữ vững chuẩn quốc gia về y tế. Kế hoạch mục tiêu y tế – Dân số, công tác y tế dự phòng được triển khai có hiệu quả, dịch bệnh được kiểm soát tốt; công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình được thực hiện tốt.

Ba. Lĩnh vực kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế của huyện Hoài Nhân là tốt, năm sau sẽ cao hơn năm ngoái. Số tuyệt đối nông nghiệp vẫn tăng nhưng tỷ trọng giảm dần, công nghiệp – xây dựng và công nghiệp thương mại – dịch vụ tăng khá, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tốt và có chuyển biến rõ rệt, công nghiệp – xây dựng 59,61%; dịch vụ-thương mại 16,63%, nông lâm thủy sản 23,76%.

Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – làng nghề:

Ra sức xây dựng và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Năm 2018, giá trị sản xuất làng nghề đạt 6.817,9 tỷ đồng (tính theo giá so sánh 2010); 8 cụm công nghiệp với diện tích 146,2 ha được hình thành và phát triển, trong đó có 6 cụm đi vào hoạt động, 59 doanh nghiệp mới /1.047 lao động và 662 cơ quan/1.416 lao động, với tổng vốn đầu tư 862,4 tỷ đồng và 4 làng nghề (trong đó: làng nghề bánh tráng số 01, bún số 8; làng nghề sản xuất dừa số 01, làng nghề bún số 01); Làng nghề chiếu cói số 2 Tiêu biểu trên địa bàn Sản phẩm được hỗ trợ xây dựng nhãn mác Nhãn hiệu tập thể: Nước mắm truyền thống Tanquan, Bột Batanquannan, Dầu dừa nguyên chất Huiren… Năm 2018, 04 sản phẩm được xác định là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực miền Trung và TP. miền Tây. Tài nguyên thiên nhiên, trong đó có 02 sản phẩm Nước mắm nguyên chất là sản phẩm dầu dừa và hoa được xác định là sản phẩm tiêu biểu Sản phẩm công nghiệp nông thôn cấp quốc gia năm 2017.

Thương mại-Dịch vụ: phát triển và hình thành nhiều kênh phân phối, đa dạng hóa hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; hoạt động thương mại dịch vụ tăng trưởng khá, năm 2018 doanh thu đạt 14.423 tỷ đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 106,94 triệu USD (tương đương 2.500 tỷ đồng) đồng Việt Nam), tăng 56,7% so với năm 2017; các dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tín dụng, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm phát triển mạnh. Thương nhân mạnh dạn đầu tư mở rộng ngành nghề, mặt hàng kinh doanh. Công tác xúc tiến thương mại đã thu hút được sự quan tâm của chính quyền các cấp, các doanh nghiệp, tổ chức thương mại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế vùng.

Phát triển sản xuất phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Đẩy mạnh thực hiện đề án điều chỉnh cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng; bước đầu hình thành các vùng sản xuất lúa, cạn, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản tập trung; có nhiều mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ trong vùng chuỗi giá trị, giúp nâng cao giá trị đầu ra của ngành nông nghiệp. Tỷ lệ cơ giới hóa nông nghiệp đạt trên 90%. Năm 2018, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 5.063,4 tỷ đồng. Trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp là 1.838,32 tỷ đồng, giảm 13,1%. Giá trị sản lượng lâm nghiệp đạt 75,28 tỷ đồng, giảm 43,4%; thủy sản đạt 2.899,4 tỷ đồng, cụ thể:

Thủy sản: Đẩy mạnh kết hợp Kế hoạch hành động phát triển kinh tế biển số 18-ctr/hu của Huyện ủy với bảo vệ chủ quyền biển đảo, giai đoạn 2016-2020. Thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển nghề cá, nhất là theo quy định tại Quyết định số 48, hỗ trợ kinh phí dầu khí để ngư dân phát triển khai thác xa bờ; sửa chữa, cải hoán và đóng mới tàu theo tàu vỏ số 18, 1 tàu vỏ composite, 8 vỏ gỗ tàu, sửa chữa, trang bị, nâng cấp hơn 500 tàu; đóng mới 380 tàu công suất trên 400 CV; trang bị cho tất cả các tàu khai thác viễn dương 350 máy định vị vệ tinh Movimar, máy cao tần, từng bước đầu tư máy móc thiết bị, ngư lưới cụ hiện đại. nâng cao hiệu quả khai thác thủy sản, phòng chống thiên tai, tai nạn hàng hải, tham gia đấu tranh giữ vững chủ quyền, quyền lợi biển, đảo. Giá trị sản xuất ước đạt 3.031 tỷ đồng, tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản đạt 49.247,8 tấn. Trong đó, sản lượng khai thác hải sản đạt 46.800 tấn (9.550 tấn cá ngừ). Tôm nuôi phát triển tốt về năng suất và giá trị, diện tích nuôi trồng 249,54 ha, năng suất bình quân 9,6 tấn/ha, sản lượng đạt 2391,8 tấn. Doanh thu trên 1 ha đất nuôi trồng thủy sản đạt 1,8 tỷ đồng/ha.

Ngành trồng trọt: Tập trung điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, tập trung đẩy mạnh chuyển đổi lúa 3 vụ sang lúa 2 vụ, chuyển đất cạn sang lúa cạn; sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao. Vùng sản xuất tập trung, cánh đồng mẫu lớn, cánh đồng tiên tiến cho doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm bước đầu được hình thành. Tỷ lệ áp dụng cơ giới hóa khâu cày bừa, thu hoạch, giữ tươi và chế biến đạt trên 90%. Tổng sản lượng lương thực có hạt 93.504 tấn (trong đó lúa 83.793 tấn). Giá trị thu nhập trên 1 ha đất canh tác đạt 104,1 triệu đồng. Phát triển sản xuất, hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, xây dựng mô hình liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản.

Chăn nuôi: Với việc thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng chống dịch bệnh, chăn nuôi sản xuất nhỏ lẻ đã chuyển mạnh sang hướng phát triển nông nghiệp và chăn nuôi đại gia súc, chương trình nạc hóa đàn lợn được đẩy mạnh, đàn lợn hướng nạc chiếm tỷ trọng cao. cho 89% tổng đàn, đàn bò thịt chất lượng cao được củng cố phát triển, tỷ lệ bò lai đạt hơn 80%. Đàn gia cầm và một số vật nuôi mới như hươu, nai, chồn, lợn rừng, nhím phát triển mạnh. Giá trị sản lượng là 1.038,09 tỷ đồng.

Ngành Lâm nghiệp: Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục hệ thống pháp luật về bảo vệ và xây dựng rừng, tăng cường công tác quản lý bảo vệ, phòng cháy và chữa cháy, điều tra xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật. Thực hiện giao đất, trồng rừng; điều chỉnh những bất cập trong 3 quy hoạch lâm nghiệp; tăng cường công tác quản lý rừng trồng, phấn đấu cấp chứng chỉ rừng (FSC). Tạo mô hình thâm canh rừng gỗ lớn, bình quân mỗi năm trồng mới hơn 850 ha rừng. Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện là 23.075,07 ha, giá trị sản lượng đạt 72,87 tỷ đồng. Sản lượng gỗ của rừng nhân tạo là hơn 70.358 mét khối, tỷ lệ che phủ rừng đạt 44,5%.

Kinh tế tập thể phát triển theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã hoạt động ổn định theo Luật HTX năm 2012, đáp ứng tốt các khâu dịch vụ làm đất, cung ứng giống vật tư, đầu tư nông nghiệp, tưới tiêu, thu hoạch, sản xuất hiệp hội, một số hợp tác xã nông nghiệp cũng tham gia vào các dịch vụ sản xuất, vận hành khác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, chẳng hạn Nhà máy Yu’an và Nhà máy Huaimei sử dụng công nghệ ép lạnh để sản xuất dầu dừa nguyên chất. Kinh tế nông nghiệp trên cơ sở kết hợp chăn nuôi với trồng cây ăn quả phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô sản xuất. Có 15 trang trại vừa và nhỏ trong vùng.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giải Đáp Cuộc Sống