Giá trị nhân đạo là gì? Những điều bạn cần biết!

Giá trị nhân đạo là gì? Những điều bạn cần biết!

Giá trị nhân đạo

Nói đến những giá trị cơ bản của văn học phải nói đến hai giá trị cốt lõi: giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Vậy giá trị nhân văn là gì? Khi được yêu cầu phân tích giá trị nhân đạo trong văn học, cần phân tích điều gì?

Bạn Đang Xem: Giá trị nhân đạo là gì? Những điều bạn cần biết!

1. Giá trị nhân đạo là gì?

Trước khi tìm hiểu thế nào là giá trị nhân đạo, trước tiên chúng ta hãy phân tích khái niệm chủ nghĩa nhân đạo.

1.1. Triết lý nhân văn

Trong tiếng Việt, nhân là người, Đạo là chính. Vì vậy, bản chất con người là tình yêu thương giữa con người với nhau, thể hiện ở sự tôn trọng các giá trị, quyền và phẩm chất của con người.

Từ đây chúng ta có hai khái niệm liên quan đến bản chất con người: tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa nhân đạo.

Tư tưởng nhân đạo luôn thể hiện sự cống hiến của cá nhân đối với các vấn đề xã hội.

Vậy chủ nghĩa nhân đạo là gì? Chủ nghĩa nhân văn bắt đầu từ thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XIX. Trong giai đoạn này, bên cạnh chủ nghĩa nhân đạo, nhiều trào lưu mới như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa đạo đức đã xuất hiện trong văn học Việt Nam. Trong đó, chủ nghĩa nhân đạo nổi bật hơn cả với hàng loạt kiệt tác từ thơ đến văn xuôi. Đồng thời, tinh thần nhân đạo cũng góp phần tạo nên bước tiến dài trong lịch sử văn học dân tộc.

1.2. Biết giá trị nhân đạo là gì?

Giá trị nhân đạo là giá trị cơ bản của tác phẩm văn học hiện thực được tạo nên từ sự đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với những số phận bất hạnh trong xã hội bấy giờ.

Có một điều chúng ta có thể nhận thấy ở hầu hết các tác phẩm văn học giai đoạn này là dù cuộc sống rất khó khăn nhưng trong tâm hồn của các nhân vật đều ẩn chứa một vẻ đẹp nào đó. khăn tắm. Và đây cũng chính là thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến người đọc qua ngòi bút miêu tả tinh tế. Nó đã cho chúng tôi thêm niềm tin và sức mạnh để vượt qua những khó khăn trước mắt.

1.3. Tác phẩm có giá trị nhân đạo nổi bật

Từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XII, nhiều biến cố lịch sử đã diễn ra như: Sự khủng hoảng về tư tưởng, đạo đức và trật tự xã hội; sự ra đời của văn hóa dân gian dân chủ; sự phát triển của buôn bán hàng hóa và sự ra đời của các khu vực thành thị. Điều này đã gây ra biết bao bất công trong xã hội, đến nỗi các nhà văn, nhà thơ vẫn tiếp tục tố cáo chế độ phong kiến, giai cấp thống trị và chiến tranh phong kiến ​​bằng những tác phẩm mang đậm giá trị nhân đạo nhằm nêu cao quyền sống.

Ví dụ, Đặng Trần Côn, tác giả của bài thơ nôm “ Chinh phụ ngâm ”, đã tố cáo các phe phái phong kiến ​​xúi giục nội chiến và tước đoạt hạnh phúc và tuổi trẻ của họ. Thanh xuân của con người đã nhấn chìm biết bao đau khổ, chia ly.

Trong thiên hùng ca “Trường long tân thành” hay còn gọi là “Hải ngoại bi ký”, tác giả Nguyễn Du đã bày tỏ sự bất bình gay gắt đối với xã hội xấu xa của bọn quan lại phong kiến, cường hào phản trắc, thổ phỉ xảo quyệt, tàn nhẫn. Chà đạp cuộc sống của những người dân vô tội.

Xem Thêm: Hướng dẫn, thủ thuật về Máy tính – Laptop – Tablet

Thông thường trong giai đoạn này, số phận con người trở thành một đề tài nóng hổi được nhắc lại trong văn học. Đặc biệt là cuộc sống của những người phụ nữ nghèo khổ.

Dù chịu khổ, làm lụng vất vả nhưng vẫn bị coi là tầng lớp dưới đáy xã hội, luôn bị coi thường. Không phải ngẫu nhiên mà phụ nữ trở thành nhân vật trung tâm, tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam giai đoạn này.

Trên thực tế, họ đại diện cho những người bị buộc phải sống trong cảnh nghèo đói và phải gánh chịu đói nghèo trong một xã hội gia trưởng, và một tập hợp các chuẩn mực xã hội áp dụng đặc biệt nghiêm ngặt đối với phụ nữ, cũng như những người không bình thường nói chung.

Có thể thấy, hầu hết các nhân vật nữ trong “Hoa kiều truyện” của Nguyễn Du đều có số phận xấu số, càng không phải là “tài sắc vẹn toàn” như Thôi Kiều.

Xem Thêm : Lời bài hát “Nước mắt em lau bằng tính yêu mới” – Da LAB If Tóc Tiên

Thế kỷ 20, tác giả chủ yếu miêu tả hình ảnh người nông dân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Một số tác phẩm nổi tiếng mang tính nhân văn giai đoạn này phải kể đến như “chọn vợ” (1945), “ăn gà” (1941), Vợ chồng bác (2953),…

2. Phân tích các khía cạnh của giá trị nhân đạo

Để phân tích giá trị nhân đạo của một tác phẩm văn học, chúng ta cần bắt đầu từ bốn khía cạnh sau:

2.1. Lên án, lên án xã hội

Về vấn đề này, các nhà văn, nhà thơ thường phê phán các giai cấp thống trị tàn bạo, độc tài chà đạp lên quyền sống, quyền hạnh phúc của con người, băng hoại các giá trị đạo đức. rất tốt.

2.2. Khen ngợi

Các tác giả thường tôn vinh một truyền thống tốt đẹp nào đó hoặc ca ngợi tài năng, nhân phẩm và những khát vọng chính đáng của con người.

Đồng thời, nó nêu bật ý nghĩa của đời sống thế tục và khẳng định sự tồn tại của con người cá nhân với tư cách là những thực thể bình đẳng xã hội. Đây là một khía cạnh rất sâu sắc của chủ nghĩa nhân văn trong văn học Việt Nam.

Trong truyện kiều của Nguyễn Du, nàng không chỉ xinh đẹp mà còn rất tài hoa. Đây là một chủ đề rất mới trong văn học Việt Nam lúc bấy giờ, bởi tài nữ ít được nhắc đến trong các tác phẩm trước đây.

Các tác giả đang đề cập đến các kỹ năng liên quan đến công việc nội trợ. Họ không bao giờ nói về khả năng làm thơ, làm văn của phụ nữ.

Đặc biệt, tài năng nghệ thuật cũng bị coi là điều cấm kỵ, vì những người kiếm sống bằng ca hát và chơi nhạc có xu hướng sống phóng túng, theo truyền thống Nho giáo.

Tuy nhiên, như Nguyễn Du đã chứng minh, Kiều là một cô gái có nhân cách đẹp, biết giữ phẩm giá dù bị lừa làm gái điếm.

2.3. Lòng nhân ái, sự bênh vực

Xem Thêm: Trả lời câu hỏi C1 C2 C3 C4 Bài 35 trang 95 96 97 sgk Vật lí 9

Khía cạnh này xuất phát từ việc tác giả nhận thức được vẻ đẹp tiềm ẩn của các nhân vật, hay lý do khiến những người lương thiện phải đi đến bước đường cùng.

Trong tác phẩm văn xuôi, tác giả còn hỗ trợ họ bằng cách tạo thêm nhân vật, giúp họ vượt qua khó khăn, tạo dựng chỗ đứng, khẳng định khát vọng sống.

2.4. Chỉ đường đi, lối ra cho nhân vật

Không phải tất cả các tác phẩm nhân đạo đều có đặc điểm này. Điều đó còn phụ thuộc vào khả năng nhận thức và dự đoán hiện thực của tác giả. Tương ứng, những nhân vật gặp số phận bất hạnh trong tác phẩm cũng sẽ tìm được lối thoát khỏi tình trạng khó khăn của mình.

Một cách khác là nhà văn tạo ra những cốt truyện kì ảo như những lối thoát cho nhân vật khi những con người này không thể thay đổi được hoàn cảnh thực tế của đời sống.

Chỉ cần nắm bắt và phân tích đầy đủ bốn khía cạnh trên, các em sẽ tự tin phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm.

3. Giá trị con người là gì?

Trong tiếng Việt, nhân nghĩa là người, văn nghĩa là văn hóa, văn minh. Có thể thấy giá trị của một con người chính là giá trị của một người tốt.

Giá trị nhân văn là thước đo giá trị cơ bản của tác phẩm văn học, thông qua giá trị này người đọc cảm nhận được sự đồng cảm, trăn trở của tác giả đối với một vấn đề xã hội nào đó.

Xem Thêm : Học vẹt | Giải thích Thành ngữ – Tục ngữ

Khi phân tích giá trị nhân văn của tác phẩm, người ta có xu hướng làm rõ những cái như vẻ đẹp trí tuệ, vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp tình cảm,…

Giá trị nhân văn là gì?

4. Đâu là giá trị chân thực và nhân đạo của văn học?

Như chúng tôi đã chia sẻ ở đầu bài viết, giá trị hiện thực và nhân đạo là hai giá trị cốt lõi của một tác phẩm. Vậy đâu là giá trị thực? Đây là cách tác giả phơi bày hiện thực đời sống nhân dân, xã hội trong tác phẩm của mình.

Truyện nam nữ (Nguyễn Du), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Chí Phèo (Nam Cao)… là những tác phẩm văn học trường tồn, mang đậm giá trị hiện thực và nhân đạo.

Ví dụ, tác giả Nguyễn Ngữ phản ánh chế độ xã hội phong kiến ​​bất công, trọng nam khinh nữ trong câu chuyện về một người đàn ông bằng xương và một người phụ nữ.

Xem Thêm: Ví Dụ Về Tập Tính Bảo Vệ Lãnh Thổ

Người phụ nữ thời kỳ này phải chịu đựng những lễ giáo khắt khe và tư tưởng bảo thủ, lạc hậu. Đẩy họ trực tiếp đến hàng loạt bi kịch cuộc đời, không thể tự bảo vệ mình.

Ngoài ra, Nguyễn Dữ còn phản ánh cuộc chiến tranh phi nghĩa kéo dài đã gây ra biết bao mất mát, đau thương cho nhân dân.

Về giá trị nhân đạo, Nguyễn Ngọc luôn ca ngợi và trân trọng vẻ đẹp của người phụ nữ xưa qua hình tượng vũ nữ: tuy xuất thân khiêm tốn nhưng lại rất đoan chính. Nay báo hiếu.

Từ khi về nhà chồng, cô ấy kỷ luật nghiêm khắc, vợ chồng chưa từng xảy ra bất hòa. Khi chồng đi lính, nàng chỉ nói một lời động viên trìu mến, mong chồng bình an trở về, nàng không “mặc ấn phong, áo gấm”.

Khi chồng đi vắng, mọi việc từ mẹ chồng đến chăm con đều do cô quán xuyến. Trước khi đi, mẹ chồng của Phù Nương còn yêu cô thắm thiết: “Thanh Thiên không giúp con, coi như con không giúp mẹ”.

Nhưng khi người chồng đi lính về, anh ta tự hỏi liệu vợ mình có mất bình tĩnh không. Khi Fu Niang tuyệt vọng, cô đã ném mình xuống sông.

Đây có thể coi là một nước đi quyết liệt, anh thà chết chứ không để nỗi oan khó gột rửa. Lời nói và việc làm của nhà văn nguyễn ngữ đầy sự cảm thông, nâng đỡ người phụ nữ trong xã hội cũ.

Hơn thế, anh còn được vợ của Neptune là Lingpi cứu qua Wunu và ban cho cô cuộc sống bất tử, lên tiếng đòi công lý cho phụ nữ. Đây là con đường nguyễn ngữ rực cháy để cứu những người phụ nữ thoát khỏi số phận bất hạnh của họ.

Như vậy có thể thấy cả 4 mặt giá trị nhân đạo vừa phân tích ở phần 2 đều chứa đựng trong áng văn sử thi của Nguyễn Du.

Hiểu được thế nào là khái niệm giá trị nhân đạo và bốn mặt của giá trị nhân đạo là chìa khóa quan trọng giúp chúng ta tìm ra giá trị cốt lõi của tác phẩm văn học. Với những thông tin vừa chia sẻ trên đây, chúng tôi hy vọng sẽ giúp các em không còn bối rối khi gặp câu hỏi yêu cầu phân tích giá trị nhân đạo hay giá trị hiện thực.

Xem thêm:

  • Đức tin là gì? Sức mạnh, ý nghĩa niềm tin cuộc sống
  • Thất bại là gì? Làm thế nào để đối mặt và vượt qua thất bại trong cuộc sống?
  • Nguồn: Thử nghiệm hoạt động

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục