TOP 15 bài Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ siêu hay

TOP 15 bài Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ siêu hay

đây thôn vĩ dạ khổ 1 2

Phân tích 2 đoạn đầu của bài này làng này là vi da Tổng hợp 15 bài văn mẫu siêu hay và gợi ý viết chi tiết nhất.

Bạn Đang Xem: TOP 15 bài Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ siêu hay

Phân tích 2 phần đầu của bài văn mẫu với 15 bài văn mẫu thôn Vĩ Dạ do download.vn trình bày này sẽ giúp các bạn tự tin mà không cần lo lắng làm sao để viết bài cho mình hay và ấn tượng nhất. Các em hãy vận dụng linh hoạt các bài văn mẫu dưới đây, đồng thời vận dụng các phương thức biểu đạt của mình để bài văn thêm hoàn chỉnh, hấp dẫn. Bên cạnh Phân tích văn xuôi “Đây là làng của Vader” phần 1 và 2, các em có thể xem thêm: Phân tích tác phẩm “Làng Vida” phần 1, phân tích bài thơ “Đây là làng của Vader”.

Phân tích dàn ý hai khổ thơ đầu của bài thơ này thôn này là vi đá

1. Phần mở đầu:Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích

2. Văn bản:

Bài hát 1: Cảnh đẹp thôn quê và lòng nhân hậu chân chất của con người:

Sao em không về làng chơi? Nhìn mặt trời mọc. Vườn ai xanh như ngọc, trúc lá che mặt.

Câu hỏi bắt đầu bằng

+ mang nhiều sắc thái: tự vấn, nhẹ nhàng trách móc, nhẹ nhàng mời mọc.

+ Ba câu sau gợi lên vẻ đẹp hữu tình của thôn Vĩ lúc bình minh: dưới ánh nắng mặt trời lên, cảnh vật hoang sơ, trong xanh; con người hiền hòa, đôn hậu. Đằng sau bức tranh phong cảnh là một tâm hồn nhạy cảm, một con người yêu thiên nhiên, nghiêm túc và nỗi băn khoăn day dứt của tác giả.

Bài hát 2: Cảnh trời, mây, sông và nỗi đau đơn côi, chia ly:

Gió theo chiều gió, mây cuộn mây thong dong, nước buồn, hoa ngô đồng… thuyền ai đậu bên sông Trăng, đêm nay có chở trăng về không?

<3

+ Hai câu sau tả cảnh sông lấp lánh trong một đêm trăng vừa thực vừa mộng. Đằng sau đó là nỗi đau, sự trăn trở và khát khao cháy bỏng của nhà thơ.

*Nghệ thuật:

– Văn từ chắt lọc, hình ảnh độc đáo giàu sức gợi, đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng.

– Sử dụng hiệu quả các biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ.

– Câu hỏi tu từ phù hợp với giọng điệu.

– Giọng điệu khi nghiêm trang, giọng điệu khi say đắm, giọng điệu khi lo lắng, giọng điệu khi buồn bã

3. Kết luận:

Bài thơ là tập hợp những sáng tạo và phong cách nghệ thuật độc đáo của Hàn Kết, thể hiện tình yêu thiên nhiên, cuộc sống, tình yêu cuộc sống thiết tha của nhà thơ.

Phân tích hai phần đầu của bài viết này trong Vida Village – Mô hình 1

The Vader Village là tác phẩm tiêu biểu tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Mike Han. Bài thơ lấy cảm hứng từ tấm thiệp có hình ảnh phong cảnh hoa cúc dại – người mà Hàn mỗ tử đã thương nhớ – và được viết vào những năm cuối đời, khi nhà thơ đang điều trị bệnh hiểm nghèo. trong một trại. phong tuy hòa.

Hai khổ thơ đầu của bài thơ miêu tả cảnh vật và con người xứ Huế thanh tịnh, yên bình và đượm buồn.

“Sao em không về làng chơi?” Ngắm bình minh lên, vườn cây xanh mướt, tre lá che kín cánh đồng. “

Đoạn thơ mở đầu bằng câu hỏi tu từ “Sao anh không về quê du ngoạn”. Câu hỏi này vừa là lời nhắc nhở, vừa là lời mời gọi, đồng thời cũng có thể là một lời quở trách nhẹ nhàng. Dường như tác giả đang tự phân thân, tự vấn lòng mình, một việc lẽ ra phải làm từ lâu nhưng không làm được: trở về làng Weida. Những sắc thái đan xen trong những câu hỏi nhẹ nhàng thể hiện niềm khao khát trở về trong đêm mãnh liệt của nhà thơ, và những câu hỏi ông đặt ra chứa đầy những nỗi niềm thầm kín khó tả. ..

Sau câu hỏi tha thiết ấy, ấn tượng về một làng quê thanh bình yên ả dần hiện lên trong kí ức nhà thơ:

“Nhìn nắng vườn xanh tươi, lá tre che mặt”

Trong khu vườn xinh đẹp ấy, “nắng trầu” tinh khiết, trong trẻo đã thu hút và làm say đắm ánh nhìn của nhà thơ. Những cây trầu vươn mình đón tia nắng đầu tiên mà thiên nhiên ban tặng, thể hiện sự thanh khiết trong ánh nắng lung linh. Vẻ đẹp của khu vườn đẹp đến nỗi nhà thơ bỗng thốt lên đầy hân hoan, phấn khởi: “Vườn ai xanh như ngọc bích”. Tính từ “mướt” kết hợp với từ chỉ mức độ “quá” gợi vẻ đẹp mượt mà, óng ả, tươi tắn, đầy sức sống của cây cối trong vườn. Hình ảnh tương phản “xanh như ngọc” gợi vẻ đẹp yêu kiều, sang trọng của khu vườn, với những chiếc lá xanh mượt được “ánh nắng cây trầu bà” chiếu rọi thành màu xanh ngọc bích tuyệt đẹp. Cả khu vườn không chỉ được tưới mát bởi sương đêm và ánh nắng mà còn có sự chăm sóc đầy nhân văn từ những bàn tay khéo léo khiến khu vườn trở nên đẹp đẽ và tươi mới hơn.

Giữa khung cảnh tuyệt đẹp, hình ảnh người con gái Huế duyên dáng nhưng nội tâm hiện lên:

“Lá tre che mặt”

Đằng sau những chiếc lá tre mảnh mai, thấp thoáng khuôn mặt đầy lời nói ân cần gợi lên vẻ đẹp của sự dịu dàng, nhân hậu. Dáng người kín đáo, tế nhị và nhẹ nhàng, đúng như bản chất của người Huế. Phải yêu thiên nhiên và cuộc sống, tác giả ít nhiều đã lưu giữ trong tâm trí mình những hình ảnh đẹp và sống động như vậy.

Đằng sau bức tranh hài hòa giữa cảnh vật và con người, có lẽ là một nỗi niềm trăn trở không nguôi của một “tôi” đầy tâm sự:

“Gió theo gió, mây theo mây, nước buồn chảy, hoa thung rơi”

Tác giả đã khéo léo sử dụng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa để miêu tả sự chuyển động và trạng thái của cảnh vật “gió theo gió, mây theo mây”. Cách ngắt nhịp 4/3 giống như cắt đôi câu thơ, như tách phải trái ra. Hình ảnh mây gió trong thế giới tự nhiên vốn dĩ đồng hành với nhau, mây bay theo gió, gió thổi thì mây bay đi. Bởi vậy, gió và mây trong bài thơ xuất hiện cùng với cảnh, gió và mây ngược chiều nhau, hai con đường, hai hướng. Đối với người sáng tác, điều này thật phi lý, nhưng với sự mặc cảm tự ti của người viết lời lúc bấy giờ, điều đó là vừa phải.

Dòng nước sông Hương như thấu hiểu tâm trạng nhà thơ, nhưng cũng mang nặng trĩu “nỗi sầu”. Nước chảy lặng lẽ, bông ngô đồng đung đưa bên bờ, nước bồng bềnh hoa trôi – cảnh có vẻ trống, động mà tĩnh, tất cả đều có vẻ buồn. Có lẽ chính vì lúc này, tác giả không còn cảm nhận cảnh tượng này bằng con mắt của người thường mà cảm nhận bằng trái tim mình. Đó là tấm lòng của một người ra đi với gánh nặng tội lỗi, từ biệt cõi đời, trong khi tâm hồn háo hức sống tiếp.

<3

Xem Thêm: Soạn bài Củng cố, mở rộng bài 8 Kết nối tri thức

Không gian đêm trăng trên sông rộng mở, đầy hư ảo, vừa thực vừa mộng. Vầng trăng tan vào làn nước trong xanh tạo nên một cảnh tượng non nước lấp lánh nên thơ. Dòng sông trăng chở thuyền về bến, bến trăng đợi thuyền cập bến, liệu đêm nay thuyền có đưa trăng về bến không? Những câu hỏi chân thành chứa đựng sự lo lắng, trong khi chờ đợi chứa đầy lo lắng và mong đợi. Từ đơn giản “đúng lúc” khiến chúng ta suy nghĩ rất nhiều về nhà thơ trẻ này. Han Motu hiểu hơn ai hết rằng thực tại thì ngắn ngủi và cái chết cận kề, nên anh phải nắm bắt từng phút từng giây, chạy đua với thời gian, chạy đua với cuộc sống. Nếu con tàu chở trăng về bến “đúng lúc” thì “ta” còn nói được, nhưng nếu không “đúng lúc” thì người thi sĩ tội nghiệp sẽ mãi cô đơn và đau đớn. bộ phim quá đẹp và đáng thương, có lẽ Ngay cả Han Ketu cũng sống hạnh phúc một mình.

Cảnh sắc thiên nhiên và tâm hồn yêu đời của nhà thơ được thể hiện qua hai dòng thơ rất trong sáng, độc đáo và giàu sức biểu cảm. Qua đó, ta thấy được một tâm hồn yêu đời, nghiêm túc với cuộc sống căng thẳng của tác giả, từ đó ta biết trân trọng cuộc sống, trân trọng hiện tại, không một lời than vãn, nuối tiếc.

Phân tích hai đoạn đầu Đây thôn Vĩ Dạ – mẫu 1

Nhà phê bình văn học nghệ thuật Đỗ Lai Thụy đã viết trong bài đánh giá về các nhà thơ xuất sắc của Phong trào thơ mới: “Nếu như Lưu, Lưu trong Lư, Nguyên Binh là những dòng lãng mạn trong sáng thì Nhược Xuân, đặc biệt là Huy Cận, là những dòng lãng mạn kết cườm. thành yếu tố Tượng trưng…Han Meto là sản phẩm hài hòa của lãng mạn, kỳ ảo và cả siêu thực.” Thật vậy, mặc dù cuộc đời của Han Han ngắn ngủi và trải qua nhiều đau đớn, tuyệt vọng nhưng những vần thơ của anh vẫn tràn đầy cảm xúc yêu đời và mãnh liệt. , tê liệt đến mức quằn quại đau đớn. Ngoài ra, điểm khác biệt của thơ Hàn Kết Đồ là chất lãng mạn pha lẫn phong cách thơ Đường luật xưa, cộng với sự đột phá sáng tạo trong phong cách nghệ thuật, đã để lại cho người đọc một hình tượng thơ độc đáo, ấn tượng. Đọc thơ Hàn, người ta thấy được cái lãng mạn, trong sáng, thuần khiết chân thực nhưng đồng thời cũng thấy được những hình ảnh quái đản, điên rồ, siêu thực nhất, khiến người đọc phải trầm trồ, suy nghĩ về hồn thơ đặc biệt nhất của thơ mới. . Đây thôn là một trong những bài thơ hay nhất của Hàn Mộc Đồ, một thủ lĩnh của phong trào thơ mới và gần như thể hiện hết phong cách sáng tác của ông, hai trong số đó là khổ thơ đầu, hiện lên một hình ảnh Hàn Mộc Đồ với tâm hồn yêu quê trong sáng, trữ tình. hình ảnh, tình yêu sâu sắc với cuộc sống.

“Em về làng chơi nào? Nhìn nắng mới Vườn ai xanh như ngọc bích, lũy tre lá đầy.”

McHan mở đầu bằng một câu hỏi mở rất dịu dàng, rất Huế, mang đến một bức tranh quê thanh bình và gợi nhiều sức gợi “Sao em không về chơi ngoại cảnh?” Chủ ngữ “anh” trong bài thơ khiến người ta tự hỏi phải chăng đây là một câu chuyện tình đầy duyên dáng của một cô gái Huế luôn hờn dỗi một chàng trai rụt rè không chịu cảm thông và để mình chờ đợi. Rồi cũng có thể là một lời mời dễ thương của một người con xứ Huế, mong bạn bè phương xa vài lần đến với mảnh đất thơ mộng này. Nhưng nếu nhìn ở một góc độ khác, có lẽ câu hỏi “Sao em không về làng?” chính là điều mà tác giả đang tự hỏi mình, tự nhắc nhở mình rằng mình đã bao lần trở về làng. trong nhiều năm. sau nhiều năm. Từ “không về” gắn liền với cuộc đời đau thương của Hàn Mặc Tử mà càng đáng thương hơn, hàm ý điềm báo không lành của nhà thơ khi ông bị bệnh phong hành hạ đau đớn, tuyệt vọng vì không thể về lại Huế. Anh chỉ nhớ người làng, nhớ người thân trong những kỉ niệm đẹp nhất.

Có thể nói, câu hỏi tu từ trong đoạn thơ mở đầu không chỉ là nhịp cầu mở ra bức tranh xứ Huế mà còn bộc lộ sâu sắc nỗi niềm của tác giả đối với mảnh đất cố đô. Ở đó, có tình yêu, có sự sống, có người con gái mà bao thi nhân hằng mong mỏi, nhưng tiếc thay trước nghịch cảnh của bệnh tật, mọi thứ đều tan biến. Trong nỗi nhớ Huế, Han Mektu đã phác họa một làng quê thiên nhiên thơ mộng, trong trẻo và rực rỡ bằng những đường nét chân chất và đẹp đẽ. Bức tranh mở đầu bằng hình ảnh “nắng” được lặp lại hai lần trong câu thơ:

“Ngắm mặt trời mới mọc”

Đó là một buổi bình minh rực rỡ, khắp nơi tràn ngập nắng, lung linh, luân phiên xuyên qua từng vòm cau xanh mướt. Hen Mektu vẽ ra từng nét uyển chuyển, giàu sức gợi trong những bức tranh đồng nội buổi sáng sớm của mình, hàng cây trầu thẳng tắp, xanh tươi, giản dị trên nền ánh sáng ấm áp của mặt trời mới. Hình ảnh “Trầu cau Triều Dương” là hình ảnh Han Meiktu dành riêng cho Huế, bởi cây trầu là biểu tượng đặc trưng của cố đô, luôn ngẩng cao đầu trên nền trời xanh thẫm đón nắng ấm. .Việc ép đầu tiên trong ngày đã hoàn tất. Những miếng lá trầu xanh ngọc bích được tắm mình trong ánh nắng vàng ươm, lấp lánh sương mai khiến lòng người khoan khoái, vui vẻ, mở ra một loạt bức tranh đồng nội trong trẻo, thơ mộng. “Mặt trời mới” là một văn bản giản dị được viết bằng Hán Motu, là một tia nắng ban mai tươi mát và nhẹ nhàng, không phải là ánh nắng gay gắt của buổi trưa, mà là ánh sáng của mặt trời. Lần đầu tiên sau một đêm dài, trong trẻo, ấm áp và tràn đầy năng lượng, biểu tượng của những khởi đầu mới. Suy nghĩ vượt lên trên hình ảnh “Nắng mới” có lẽ là ẩn dụ cho tấm lòng của người nghệ sĩ khi cầm tấm bưu ảnh của cố nhân, một thứ cảm xúc nhẹ nhàng và đầy hy vọng.

Trong không gian tràn ngập nắng mới, có sự hiện hữu của “vườn ai”, một khu vườn trù phú, tươi tốt, tràn ngập mọi ngóc ngách qua từ láy “thật mát” đầy gợi cảm. .Bên cạnh đó, biện pháp tương phản “xanh như ngọc” cũng mang đến cho bức tranh thiên nhiên của Làng Vida một hương vị thi vị thực sự, khiến người đọc dễ liên tưởng đến hình ảnh một khu vườn Huế non xanh, còn nguyên từng chiếc lá. Ánh nắng nhẹ nhàng buổi sáng mang đến cảm giác thật trong trẻo, chất ngọc và tươi mát. Đặc biệt, từ “ai” trong “Vườn ai” bao hàm ý nghĩa trữ tình, làm tăng thêm sự hài hòa, sức sống giữa con người và thiên nhiên. Đồng thời, câu thơ “Lá tre che mặt phông” gợi lên sự giản dị, nhân hậu, nồng hậu của con người xứ Huế. Phong cách “thị trung hoai” sử dụng vẻ đẹp nhẹ nhàng, giản dị của lá trúc để làm nổi bật vẻ đẹp duyên dáng của khuôn mặt người. Han Mektu nhớ dáng vẻ dịu dàng, xinh đẹp của người Huế, xen lẫn trong ký ức xa xăm là một cô gái Huế khí chất nổi bật, thùy mị, thùy mị, xinh đẹp và nhân hậu. .

Tiếp nối sức sống mãnh liệt của những bức tranh thiên nhiên toát lên sự yêu đời, lạc quan, Hàn Kết Đồ tiếp tục đưa người đọc trở về với những bức tranh thiên nhiên lúc nửa đêm như bóng thuyền, cảnh trăng, sự tĩnh mịch và sự yên tĩnh của sông Xianghuo. Từ hiện thực đầy bình minh đến cảnh đêm tối, con người cảm nhận một cách tinh tế sự chuyển đổi cảm xúc của tác giả, từ niềm vui tràn trề trong thể xác đến sự hoang mang, bối rối, lo lắng, hoang mang trước thiên nhiên hoang vắng lạnh giá.

“Gió theo gió, mây là mây, nước biếc, hoa ngô đồng đung đưa… Thuyền ai đậu bên sông Trăng, đêm nay có chở trăng về không?”

Xem Thêm : Giới hạn sinh thái là gì? Ý nghĩa của giới hạn sinh thái

Cảnh mây và gió trong “Hàn Motu” luôn song hành, mây luôn chuyển động theo gió, dường như luôn có mối quan hệ khăng khít. Nhưng khi đọc bài thơ “Gió với gió, mây với mây”, gió và mây cùng một cảnh, nhưng lại như cách biệt, hướng ngược lại, hàm ý chia cắt, phân mảnh, chính là tác giả và thế giới. đối với Hàn Motu là điềm báo đau đớn báo trước một căn bệnh hiểm nghèo. Đặc biệt khi tác giả lặp lại hai từ “mây” và “gió”, lối thơ tả cảnh khung cảnh, ngắt nhịp 4/3 chia bài thơ thành hai nửa mang đến sự thất vọng, cô đơn khó tả. Dòng sông Hương ngàn năm êm đềm đã chứng kiến ​​biết bao tang thương của dân tộc, không khỏi bàng hoàng trước những đổi thay của thế cuộc, nhưng khi đi vào thơ của Hàn Mễ, dòng sông này như được chở bằng từ “sầu lẻ bóng nước”.Nỗi sầu của nhà thơ. Đọc thơ Hàn Kết Đồ, ta tưởng như tác giả đang đứng trước dòng sông Hương, nhìn ra xa xăm, trong lòng có nỗi buồn vô tận, tràn ngập cả không gian, thật xứng với cái tên “Hà Kinh”. Cảnh mà chẳng buồn/ Người buồn cảnh chẳng vui”, nguyễn du. Thêm vào đó, hình ảnh “bông ngô đồng trải dài” khiến người đọc hiểu rõ hơn tâm trạng của nhà thơ. một ẩn dụ sâu sắc rằng cuộc đời sinh ra là do số mệnh, giữa dòng đời chỉ biết để dòng đời xô đẩy, nghĩ mà làm cho cuộc đời “Hoa ngô đồng” thật buồn. Flowing Cornflower” mở ra Có một không gian bao la vô biên, nhưng không có hơi ấm, chỉ có sự lạnh lẽo và u ám, xóa nhòa mọi vẻ đẹp. Ở phần đầu, tác giả gợi nhiều đến sự huy hoàng của hư ảo.

Làm nổi bật sự chuyển đổi cảm xúc của tác giả từ niềm vui, tình yêu sang nỗi buồn, sự tuyệt vọng giữa các câu thơ. Hen Mektu trở về với cung trăng, dằn vặt trước một kiếp người bất hạnh, là lời tâm sự của nhà thơ, còn gắn bó với ông trong nhiều vần thơ vừa trong sáng vừa lạ lùng. Con trai lạ lùng không thể tả. Ở đây, hình ảnh vầng trăng ở làng Weida hiện lên thật đẹp và dịu dàng trong câu “thuyền ai chở trăng sông ấy”, ánh trăng vàng nhạt phủ bóng những chiếc thuyền nan xuôi theo dòng nước, mặt sông lấp lánh. Khung cảnh đầy hư ảo và tình tứ ấy dường như đã phần nào xua đi nỗi buồn trong lòng tác giả. Tuy nhiên, trong bài thơ “Đêm nay trăng có trở về quá khứ không?”, Hàn Kết Đồ vẫn không quên được đủ thứ hoang mang, lo lắng của cuộc đời, đó là sự lo lắng, sợ hãi và linh cảm chẳng lành. Cuộc đời ngắn ngủi của anh sắp kết thúc. Anh sợ mình sẽ không bao giờ được ngắm nhìn ánh trăng đẹp, và anh sẽ không bao giờ được nhìn thấy “ánh trăng trắng” của cuộc đời – người con gái xứ Huế, người mang đến cho anh niềm vui trong cuộc sống, bao hy vọng được yêu. Một tình yêu đẹp mà sóng gió cuộc đời bủa vây tấm thân khô héo của em, dù chỉ là một tấm bưu ảnh của em.

Cuộc đời ông ngắn ngủi đau thương, hồn thơ chất chứa bao khát vọng yêu đời nhưng đằng sau đó là nỗi buồn đau tột cùng. Chính vì điều này mà thơ ra đời vừa nên thơ, trong trẻo đến tột độ, vừa vô cùng phức tạp khi thường xuyên xuất hiện những yếu tố lạ, lãng mạn, điên cuồng như hoài niệm, cũng bởi hồn thơ Hàn Kết Đồ là “nguồn” . Ánh sáng từ một tâm hồn rất đau khổ. Ta thấy đâu đó dấu vết của tình yêu đã chết non… Chỉ trong thơ của Hen Mektu ta mới thấy nỗi đau mãnh liệt đến thế. Lời bài hát giống như máu. “Weida Village” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất trong phong cách sáng tác của Michael Han, vừa đẹp đẽ, vừa ẩn chứa nỗi buồn tuyệt vọng, những dòng thơ ngắn ngủi khiến người ta phải xót xa, xót thương cho cuộc đời ngắn ngủi và bất hạnh của người nghệ sĩ.

Phân tích 2 vế đầu của bài Đây thôn Vĩ Dạ – mẫu 3

Hàn Mạch Đồ là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của Phong trào thơ mới. Ông vốn là một người tài giỏi, nhưng khi còn rất trẻ ông đã mắc phải căn bệnh phong quái ác, và cuộc đời của ông thật éo le. Có lẽ vì thế mà trong thơ anh luôn tồn tại hai thế giới song song, một bên trong trẻo, một bên thì ma mị, cuồng loạn. Làng ra đời vào năm 1938, khi ông đang mắc phải căn bệnh phong quái ác. Bài thơ được lấy cảm hứng từ một tấm bưu ảnh có phong cảnh xứ Huế và lời chào của hoàng cúc, cô gái mà han mac tu đã từng phải lòng. Đặc biệt qua hai đoạn đầu, tình yêu thiên nhiên, sự bao dung rộng lớn của con người với thiên nhiên, những nỗi niềm thầm kín của nhà thơ được thể hiện một cách sinh động.

Hai khổ thơ đầu của bài thơ miêu tả khung cảnh Vê-đê-xun và tâm hồn cô quạnh, lạc lõng, trống vắng của tác giả.

“Sao em không về làng chơi, nhìn nắng trên cây trầu vườn ai dịu dàng, nắng mới dịu dàng, lá tre xanh che mặt, gió lộng theo gió, mây, mây, nước buồn, mũi tên Cheju, liệu đêm nay thuyền cập bến sông Trăng và trăng có đưa trăng về đúng lúc không?”

Mở đầu bài thơ là một câu hỏi đau đáu, như thể người làng đang đãi khách than thở sao nhà thơ không đến.

“Sao em không về làng chơi”

Thật ra đây chỉ là lời tự vấn của nhà thơ, bởi trong lòng ông luôn mong chờ một ngày khác “về quê chơi”. Hai chữ “đi chơi về” đã làm cho Vida có một chỗ đứng trong tâm trí nhà thơ, một nơi mà ông hết lòng gắn bó.

Đêm khuya trở về, nhà thơ muốn xem “chuyến trầu” cất cánh, vườn cây cối um tùm, muốn nhìn thấy khuôn mặt thẹn thùng giữa lũy tre lá.

<3

Khung cảnh hùng vĩ mở ra từ xa đến gần, từ cao xuống thấp, góc nhìn nào cũng đẹp nên thơ, tràn đầy sức sống trong ánh ban mai. Trong cuộc hành trình “thăm thú” đêm tuyệt vời bằng trái tim mình, ánh mắt đầu tiên của nhà thơ dừng lại ở hình ảnh “mặt trời là giàn trầu, còn nắng mới mọc”. Từ “trong veo” trong cùng một câu khiến ta có cảm giác cả không gian tràn ngập nắng sớm, trong lành và tinh khiết. “Trầu cau” là cái nắng đặc trưng của Vida, bởi Vida là nơi trồng rất nhiều trầu nên hàn mặc tử được tìm thấy rất chi tiết. Những cây trầu cao thẳng tắp chọc trời, đón những tia nắng ban mai đầu tiên, cả thành phố Huế thức dậy trong sự mát mẻ và trong lành.

Trong ánh nắng trong lành của buổi sáng hôm ấy, Khu vườn của Ai trông sống động và đầy mật ngọt.

“Vườn ai xanh mượt như ngọc”

Đại từ “ai” tầm thường để biết ai là của ai, vì khu vườn ấy chính là ý nghĩ của nhà thơ. Khu vườn tràn ngập cỏ xanh “mượt mà”. Chỉ từ “Chàng” thôi cũng khiến người đọc có cảm giác như trước mặt mình là cả một khu vườn tươi tốt xanh mướt. Ngoài ra, hình ảnh tương phản “xanh như ngọc” còn gợi nhớ đến khu vườn đêm đầy sương và nắng. Mỗi cành, mỗi chiếc lá đều tỏa sáng như một viên ngọc bích khổng lồ. Ca từ của bài thơ này không chỉ là tả cảnh, mà còn là sự ngưỡng mộ khi nhà thơ ca ngợi vẻ đẹp của khu vườn bằng tình yêu say đắm của mình.

Không chỉ trìu mến nhìn khu vườn, nhìn ánh ban mai, Hàn Kết Đồ còn chìm đắm trong ánh mắt của các vĩ nhân:

“Lá tre che mặt”

Chắc là tranh cách điệu của nhà thơ, vì những khuôn mặt hiện ra sau lá trúc vừa thực vừa ảo. Những đường nét trong bức tranh thơ vừa là thiên nhiên, vừa là con người khiến cho khung cảnh khu vườn bỗng ấm áp đến lạ.

Những khuôn mặt thấp thoáng sau kẽ lá gợi cho người ta dáng vẻ rụt rè, e lệ và tính cách thận trọng, đó là nét rất riêng của người phụ nữ Huế. Những dòng hàn mặc tử hẳn được gợi lên từ một câu ca dao Huế rất quen thuộc:

“Mặt vuông chữ Điền, mình trắng, lòng mình đen, có trời có đất, có nhân từ trung nghĩa”

Vì vậy, thơ Hàn Mai Tử không chỉ mang đậm phong tục dân gian xứ Huế mà còn khơi dậy tâm hồn chân chất, đôn hậu của người dân xứ Huế.

Phần đầu tái hiện những bức tranh phong cảnh của Vader đẹp, ấm áp và tràn đầy sức sống. Đồng thời, nó cũng thể hiện nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với quê hương vĩ đại và khát khao được chạm vào cuộc sống bất chấp sự cản trở của bệnh tật.

Xem Thêm: Soạn bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật | Soạn văn 10 hay nhất

Bước sang phần thứ hai, cảnh vật và không gian của vi đà không còn tĩnh mà chuyển động, biến đổi. Vẫn là nét đẹp đặc trưng của xứ Huế nhưng giờ là biển mây núi rừng :

“Gió theo gió, mây là mây, nước là sầu, hoa ngô đồng đưa thuyền, đêm nay trăng có trở lại không?”

Cuốn thơ mở ra với bầu trời dâng trào và hương bay, đẹp đẽ, hùng vĩ và rộng lớn. Những dòng sông, những bông ngô, gió và mây đều mang hồn xứ Huế, hàm ý về sự tĩnh lặng và bình yên rất riêng của nơi đây.

Nhà thơ tả Tương Hà dưới trăng khuya. Đó là dòng sông óng ánh vàng rực rỡ, có những con thuyền cũng đầy ánh trăng cập bến sông Trăng. Ánh trăng càng làm cho sông Hương thêm nên thơ và đẹp như tranh vẽ, nó hư ảo và tĩnh lặng trong đêm, ai gặp rồi thì không thể nào quên được!

Đằng sau bức tranh là quan niệm nghệ thuật mà nhà thơ muốn gửi gắm. “Mây và gió” là hai sự vật bổ sung cho nhau, nhưng ở đây Hàn Kết Đồ đã nhân hóa và miêu tả chúng một cách riêng biệt. Mây một hướng, gió một hướng, và chúng xa nhau, cách biệt. Phải chăng đó cũng là tâm trạng của nhà thơ lúc yêu đơn phương ở một nơi xa và phải chia tay vì bạo bệnh? Nỗi buồn của nhà thơ lan tỏa và hòa làm một với thiên nhiên.

Nỗi buồn ấy cũng hòa vào dòng nước. Nhìn dòng sông chảy qua, Hàn Kết Đồ cảm thấy dòng sông cũng “buồn”. Tương Hà mang theo cảm xúc của nhà thơ, nhưng cũng mang nặng nỗi buồn. Là tâm trạng trơ ​​trọi giữa đời, trong đời Nhìn quanh chỉ thấy hoa ngô đồng đung đưa và dòng sông hiu quạnh.

Đứng giữa trời trăng, non nước, nỗi cô đơn của nhà thơ càng thấm thía. Mặt nước mênh mông, ánh trăng lành lạnh, màn đêm tĩnh mịch, khung cảnh này giống như một cõi cô quạnh, cộng thêm một con quái vật, bởi chính anh cũng cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời vì sự dày vò của bệnh tật.

Nhưng quan trọng nhất là khát vọng giao tiếp với cuộc đời, khát vọng diệt khổ của con người. Có lẽ vì thế mới thấy thấp thoáng bóng “thuyền ai” trên dòng sông hiu quạnh ấy:

<3

Mong mỏi, khao khát hy vọng, nhưng Hàn Mot Tu đã nhận ra một thực tế phũ phàng: không ai, không ai sưởi ấm được trái tim cô đơn lạc lõng, nên nhà thơ mới mong có ai đó “chở trăng về đúng lúc”.

p>Vầng trăng vĩnh cửu là nguồn cảm hứng vô tận và vẻ đẹp vĩnh cửu mà mọi người đều khao khát. Đối với nhà thơ, trăng còn là người bạn, người tri kỷ, tri kỷ nhưng với Hàn Kết, trăng còn hơn thế nữa. Anh khao khát trăng và vẻ đẹp do ánh trăng mang lại, nên anh hiểu rằng dù bệnh tật nhưng Hàn Motu vẫn luôn đi tìm cái đẹp của cuộc sống và nghệ thuật. Đọc thơ Hàn Kết Đồ, ta không khỏi thở dài trước tài năng và sức sống phi thường của một con người biết vượt qua khó khăn, cống hiến hết mình cho đời.

Bốn câu là sông, mây, trời nhưng chứa đầy tâm trạng buồn bã, tâm trạng cô đơn, khao khát được giao tiếp với đời của tác giả.

Hai khổ thơ đầu của “Làng Weida” là sự kế thừa của thể thơ thất ngôn truyền thống, đồng thời cũng là hiện thân của sự cách tân thơ ca của Hàn Kết Đồ. Hình ảnh thơ rất đỗi bình dị, giản dị đời thường, ngôn từ như đời thường, đã tạo nên chất thơ rất hiện đại.

Qua hai câu thơ, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp và sự bình yên của thôn Vĩ Dạ, cảnh vật cuộn mình đậm chất Huế mà còn cảm nhận được nỗi cô đơn, buồn tủi của Hàn Mặc Tử khi phải xa lìa cuộc đời. Do bệnh tật và tình yêu tuyệt vọng.

Phân tích 2 đoạn đầu của bài Đây thôn Vĩ Dạ – mẫu 4

Bài thơ “Đây là làng Weida” luôn được nhiều thế hệ yêu thích, có ba câu nói về bài thơ. Đầu tiên, thơ là tiếng nói của trái tim, là sự trăn trở của những yêu thương thầm kín, sau đó là những lời yêu thương dành cho miền quê yên ả. Thứ ba, thơ là khát vọng sống, sự cảm thông, chia sẻ của nhà thơ đối với cuộc đời. Và có hai khổ thơ thể hiện rõ tình cảm của tác giả gửi gắm qua bài thơ này:

Sao em không về làng chơi? Nhìn mặt trời mọc. Vườn ai xanh như ngọc, trúc lá che mặt.

<3

Thơ luôn phản ánh cuộc sống qua lăng kính của nhà thơ, qua tâm hồn sắc sảo của nhà thơ. Vì vậy, thơ luôn mang những tâm tư, tình cảm mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm, thể hiện. Hehan Miketu luôn sáng tạo, không ngừng suy nghĩ về cuộc sống và mang đến nhiều tác phẩm độc đáo. “Đây là làng Vida” là một tác phẩm tiêu biểu.

“Sao em không về làng chơi?”

Câu hỏi tu từ này chính là hiện thân của nhà thơ. Lúc này, Han Motu đã biến thành một cô gái Hui, và hỏi với giọng trách móc và tức giận. Từ “chơi” dường như là một trò chơi chữ. Vì tác giả có thể dùng từ “thăm hỏi” và mất đi cảm giác thân mật.

Cũng có thể tự trách mình thơ, nhưng không hiểu sao Huế đẹp thế mà anh không chơi. Câu hỏi này đau đáu bởi có lẽ vào thời điểm viết bài thơ này, nhà thơ đang mắc bệnh phong giai đoạn cuối. Vì vậy, được trở lại Huế chơi đã trở thành tâm nguyện của Hàn Kết Đô.

Dù không được về Huế nhưng trong tâm trí nhà thơ, cảnh sắc thiên nhiên Làng Vĩ vẫn rực rỡ và tươi đẹp:

“Nhìn nắng vườn xanh tươi, lá tre che mặt”

Ba câu thơ, từ xa đến gần đã khắc họa thành công một khung cảnh thôn quê thơ mộng. Từ “nắng” khiến người đọc liên tưởng đến một không gian tràn ngập ánh nắng. Trầu bà là loài cây đặc trưng ở Weicun, thân thẳng tắp, cành lá xum xuê, thực khách gọi là “vườn trầu xanh như ngọc”. Tuy ghi là “vườn ai” nhưng ai cũng biết đây là vườn của các cô gái Huế.

“Nhẵn như ngọc”. Xanh Ngọc Lục Bảo là màu xanh tinh khiết, màu xanh đặc trưng của ánh nắng và sương kết tinh. Cái màu xanh ngọc ấy làm cho khu vườn đẹp mê hồn lại càng đẹp hơn. Nhưng bức tranh mục đồng ấy hoàn hảo hơn, có ông trời thoáng thấy dáng thiếu nữ trìu mến hơn: “Lá tre che mặt”. Cũng là tre lá, bởi làng Vida nổi tiếng với những cây tre luôn được trồng trước ngõ. Như vậy, trong tâm trí nhà thơ, khuôn mặt của ô chữ thấp thoáng sau sợi tre.

Xem Thêm : Văn thuyết minh lớp 8 | Ngữ văn lớp 8

Phân tích hai đoạn đầu của bài Làng Weida này, trước hết người đọc có thể thấy rõ, tất cả cảnh vật, nhân vật tạo nên một bức tranh chung sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Nhưng nếu thơ chỉ nói về niềm vui, sự lạc quan và yêu đời thì có lẽ đó không phải là thơ của Hammecto. Vì vậy, sau ánh nắng ở khổ thơ đầu, giọng điệu ở khổ thơ thứ hai chuyển sang tiếc nuối chia ly:

“Gió theo gió, mây theo mây, nước buồn hoa ngô đồng”

Hai câu thơ này nói lên vẻ đẹp đặc trưng của xứ Huế. Là suối thơm, là vườn trộm, trên là “gió theo gió bay”, mây về mây về. Mặc dù mây và gió là hai hiện tượng không thể tách rời nhau, bởi chỉ khi có gió thì mây mới bay được. Tuy nhiên, trong những vần thơ của Hàn Kết, gió mây tan, nước buồn mang một quan niệm nghệ thuật khó tả.

“Thuyền ai ghé sông Trăng có thể đưa trăng về quá khứ”

Hai buổi tiếp theo vẫn là Hương Hà, cố đô Huế mộng mơ, nhưng lúc này không còn nắng, màu xanh ngọc của vi cúc giờ là một không gian tràn ngập ánh trăng. Con thuyền trở thành một con tàu mặt trăng, dòng sông trở thành dòng sông mặt trăng và bến tàu trở thành bến đỗ mặt trăng.

Bến trăng, thuyền chở trăng đã xuất hiện trong nhiều bài thơ, nhưng sông trăng là một hình ảnh mới. Như vậy, câu thơ như đưa người đọc vào trạng thái mơ màng. và “Đêm nay trăng có về kịp không?” là những câu hỏi mong chờ, lo lắng, băn khoăn và nghi ngờ, bức thiết; cũng chính là câu hỏi mà nhà thơ tự đặt ra cho chính mình. Nhà văn biết rõ rằng nếu đêm nay trăng không “về kịp” thì tôi sẽ mãi mãi chìm trong đau khổ và tuyệt vọng.

Qua hai phần đầu của bài viết này, Ngụy Đắc Tồn có thể thấy rằng thành công của hai phần là nhờ các biện pháp tu từ như điệp ngữ, câu hỏi tìm tòi, so sánh liên tưởng. Bằng những nét bút nghệ thuật, Hàn Kết Đồ đã vẽ nên một khung cảnh thơ mộng, tràn đầy sức sống nhưng cũng mang theo nỗi niềm của thi nhân trong bao tai ương.

Phân tích 2 đoạn đầu của bài Đây thôn Vĩ Dạ – mẫu 5

Có lẽ người Việt Nam nào cũng biết đến bản Tuyên ngôn về trăng nổi tiếng của nhà thơ trữ tình lãng mạn Hàn Mai Tử vào những năm 1930 và lời quảng cáo về trăng đó đã in sâu trong lòng người đọc. .Anh là một ngôi sao thiên tài trên bầu trời thơ mới, nhưng cuộc đời anh cũng lắm bất hạnh, anh luôn quằn quại, vật vã trong đau đớn bên giường bệnh của trại phong. dịch bệnh. Chính tại đây, anh đã tạo ra một thế giới nghệ thuật điên rồ, ma quái cho riêng mình. Chính cái “chất điên” này đã tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo, độc lập và hoàn toàn mới của Hammecto.

Những bài thơ của ông dường như đầy máu và nước mắt, nhưng trong vài dòng đó, chúng vẫn là những dòng thơ thuần khiết, không thuần khiết một cách đáng ngạc nhiên. Đây là Làng Vader được nhắc đến trong Những bài thơ điên rồ. Nó là sản phẩm của nguồn gốc thi ca lạ lùng ấy, một lời thú nhận về cuộc đời của một tình yêu đơn phương vô vọng, nhưng ẩn sau mỗi đường nét tươi sáng là căn bệnh ung thư của tác giả. Bài thơ này còn là tình yêu thiên nhiên, tình người thiết tha – chất chứa bao kỉ niệm, sống mãi trong kí ức ông. Vì vậy, đọc bài thơ này, ta thấy được một khía cạnh rất đẹp trong tâm hồn nhà thơ.

Xứ Huế mộng mơ đã là nguồn cảm hứng sáng tác của biết bao nhà văn, nhà thơ. Có lẽ nổi bật nhất trong số đó là tập thơ điên rồ của Hen McTaw, mở đầu bằng sự điên rồ này:

“Sao em không về làng chơi?”

Xem Thêm: Tài liệu Ngữ văn lớp 9 phần Tiếng Việt – Tập làm văn hay nhất

Trong câu hỏi đó có nhiều cách diễn đạt khác nhau như nhắc nhở, trách móc, giới thiệu mời mọc. Bài thơ thất ngôn lục bát giọng điệu dịu dàng, ngọt ngào. Nhưng thủ phạm ở đây không phải là Huangju mà là Han Maitu, chủ thể trữ tình, tình yêu sâu sắc với tình dục trong tâm trạng tuyệt vọng và khao khát của Han Maitu đã miêu tả cảnh này. Ngôi làng này đẹp như trong truyện cổ tích Trong ba câu tiếp theo:

<3

Những làng quê trong thơ Hán thật bình dị mà đẹp! Với tình yêu thiên nhiên, tác giả đã cho ta thấy một bức tranh thiên nhiên kì vĩ, đẹp đến nao lòng. Thôn Vĩ nói riêng và Huế nói chung đặc trưng bởi ánh bình minh và những mảnh vườn thân quen. Đó là một đường thẳng cao nằm dưới ánh mặt trời. Những hàng trầu như đang đón người thân sau bao ngày xa cách. Cây trầu cao chót vót là hình ảnh quen thuộc với bao thế hệ người dân làng Weida. Quên nó xanh như thế nào ở đây. Đứng trước cảnh cây cối xanh tốt ở làng Weda, nhà thơ đã thốt lên: “Vườn ai xanh như ngọc bích”. Ở đây, nó cho ta thấy sự mạnh mẽ, đầy đặn, tràn đầy sức sống, cho ta thấy sức trẻ và sự yêu đời. Trong không gian trẻ trung ấy, một gương mặt chữ nghĩa, nhân hậu hiện ra. Lá trúc che đi những gương mặt nhân hậu, làm nổi lên vẻ đẹp duyên dáng, dịu dàng, e lệ, đằm thắm của người con gái Huế.

Bài thơ hay, bởi sự hòa hợp của sông núi và con người. Tâm trạng của nhân vật trong bài thơ này là niềm hân hoan, hân hoan, say đắm như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh, với những ước mơ mộc mạc và những người dân làng xinh đẹp.

Nhưng cùng một không gian là Làng Vida, chỉ có thời gian thay đổi từ sáng đến chiều, nhà thơ phác họa ra một không gian rộng lớn vô biên có đủ gió, mây, sông, nước, trăng, hoa. Nhà thơ dùng không gian rộng lớn ấy để miêu tả hai thực thể luôn gắn bó với một trạng thái riêng biệt:

“Gió đang nổi lên”

Điều này là xuyên tạc, không đúng sự thật và vô lý. Như vậy chứng tỏ nhà thơ đã tạo ra hình ảnh này không phải bằng thị giác mà bằng một biểu cảm có lỗi. Đó là tội lỗi của một người đàn ông quá yêu đời đến mức có nguy cơ tự cô lập mình để chỉ thấy sự chia ly.

Nhà thơ vốn hớn hở khi trở về làng Vida trong một sớm mai bỗng trở nên buồn man mác. Đau buồn có thể được gây ra bởi tình yêu không được đáp lại và những kỷ niệm đẹp, những tầm nhìn mơ mộng và con người. Thật vậy, người buồn không bao giờ hạnh phúc. Giọng thơ, thanh thản – nhà thơ làm cho nó trở nên khó nhận thấy, lạ lùng.

“Thủy lo hoa ngô đồng, thuyền dừng bến sông trăng, đêm nay tiễn trăng ngược thời gian”

Dòng sông Hương đẹp thơ mộng đã đi vào thơ ca Việt Nam từ bao đời nay, nay buồn, lòng sông buồn, đôi bờ buồn, những bông ngô đồng không màu khẽ đung đưa trong gió. . Cảnh hoang tàn chẳng có gì hơn thế, nhưng trăng mọc trăng lặn là một người mới toanh. Với tính cách lãng mạn, nhà thơ đã tạo nên một không gian tràn ngập ánh trăng, dòng sông trăng, bến trăng, con thuyền chở trăng, lung linh và đầy hư ảo… Vầng trăng đã đi vào tâm thức tôi. Người Việt đã có từ lâu đời, nhưng trăng ở đây khác hẳn trăng trước và đương thời. Không có thuyền chở trăng nhưng nhà thơ thấy thuyền trở trăng. Điều này khiến mọi thứ ở đây trở nên kỳ ảo và đầy lãng mạn. Tuy nhiên, đối diện với trăng, nhà thơ vẫn có một tâm trạng bất an.

Tuy chỉ có hai đoạn đầu nhưng “Hàn Mộ Tử” như cho ta thấy được con người và cảnh vật của làng Weida, để ta hiểu sâu sắc hơn tâm trạng nặng trĩu của nhân vật trữ tình. Để thấy một tâm hồn nhạy cảm với đời, với tình yêu, với cuộc đời của tác giả.

Phân tích hai đoạn đầu của bài Đây thôn Vĩ Dạ – văn mẫu 6

Trong số các nhà thơ của Phong trào Thơ mới 1932 – 1945, có lẽ chúng ta không thấy ai có số phận nghiệt ngã như Hàn Kết Đồ, số phận bi thảm của nhà thơ được báo trước qua nhiều ẩn dụ khác nhau. Tên là phong trần (风风), 泪声 (tiếng nước mắt). Hàn Mặc Tử đi trong gió lạnh, lơ đãng, trải lòng trên trang giấy mỏng manh, viết nên nhiều vần thơ độc đáo. Một trong số đó là bài thơ “Đây Làng Vader”, đọc xong bài thơ này, người đọc sẽ ấn tượng ngay ở hai khổ thơ đầu:

<3

Hàn Mộ Tử là một trong ba đỉnh cao của Phong trào thơ mới và là một hiện tượng thơ rất mới lạ. Hồn thơ mạnh mẽ luôn chất chứa sự mâu thuẫn giữa cảnh vật và tinh thần do bệnh tật nên ông luôn khao khát sống, khao khát cảm thông với cuộc đời và con người. Bài thơ “Làng Vida” viết năm 1938, xuất phát từ mối tình đơn phương của Han Mektu với một cô gái Huế, được in trong tập “Thơ Điên”, sau đổi thành “Nỗi Đau”.

Như chúng ta đã biết, thơ là cuộc sống, nhưng nó không phải là sự sao chép máy móc mà phải được tâm hồn nhà thơ chắt lọc, cảm nhận thì mới thành thơ. Thơ là những hình ảnh tươi nguyên, được tái hiện qua lăng kính cảm xúc của người nghệ sĩ. Vì vậy, nếu thơ không có tư tưởng và cảm xúc, thì đó chỉ là một thứ sáo rỗng nhạt nhẽo, chỉ là một gánh xiếc được chọn lọc, và ngôn từ không thể đánh lừa người đọc. Là một nhà thơ, Hàn Kết Đồ đã không ngừng sáng tạo ra những tác phẩm độc đáo, khác biệt với các nhà thơ cùng thời. Đọc cái làng này ta càng cảm nhận rõ hơn.Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ:

“Sao em không về làng chơi?”

Câu hỏi ấy là sự phân thân của nhà thơ Nhà thơ biến thành một cô gái Huế và hờn dỗi, trách móc nhẹ nhàng nhưng đằng sau đó là một lời mời rất chân thành Nhà thơ dùng từ “chơi” để gợi sự thân mật. Mặt khác, câu hỏi tu từ này là nhà thơ tự hỏi mình, tự trách mình sao không đi giữa một khung cảnh đẹp như vậy. Câu hỏi lớn năm xưa làm nao lòng, nay trở lại Huế đã trở thành niềm mong ước của nhà thơ. Có lẽ khi viết bài thơ này, nhà thơ đang trong cơn phong hủi giai đoạn cuối, chỉ có thể về quê trong tâm tưởng để rong chơi, nhưng ngay trong tâm tưởng, cảnh sắc thiên nhiên của làng quê vẫn đẹp đẽ và tỏa sáng. :

<3

Cuộn tranh thôn quê đẹp và thơ mộng, gần xa đều có thể chiêm ngưỡng. Một dòng “nắng” gợi một không gian tràn ngập ánh sáng trong mắt người đọc, cây cau là loài cây mang vẻ đẹp thôn quê đặc trưng, ​​với thân thẳng tắp, cành lá xanh mướt, điểm tô cho khu vườn. Nó xum xuê, tươi tốt đến nỗi du khách phương xa phải tấm tắc khen “vườn trong như ngọc”, dù không biết tên nhưng người đọc vẫn có thể hiểu đó là khu vườn của một cô gái Huế. “Thật mượt mà” là đặc điểm kỹ thuật cho màu xanh của lá. Tại sao tác giả không dùng màu xanh lam hay xanh đậm mà lại là màu xanh ngọc bích, có thể là một màu trong veo, tinh khiết và bắt mắt. Những bức tranh quê ngày càng đẹp và hoàn thiện hơn. Khi một cô gái xuất hiện.” lá tre che kín mặt chị”. Ngụy Dã nổi tiếng với màu xanh của tre, một loài cây trồng trước ngõ, trong tâm trí nhà thơ, qua những ô chữ sau hàng tre bỗng hiện ra trước mắt. Lá trúc mảnh mai, đúng nghĩa vuông vức.

Cả hai tạo nên vẻ đẹp của sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, nếu như ở khổ thơ đầu nhà thơ nhìn cảnh vật với niềm lạc quan, yêu đời thì khổ thơ thứ hai lại thay đổi, day dứt trước cảnh chia ly, chia ly. :

“Gió lên theo gió, mây lên mây xuống, hoa ngô đồng rơi theo sầu”

Hai câu thơ miêu tả vẻ đẹp đặc trưng của xứ Huế, đó là dòng sông Tương Giang chầm chậm chảy bên bờ sông, những vườn ngô, hoa khẽ đung đưa, gió theo gió từ trên xuống, mây theo mây . .Thực tế ta thấy gió và mây là hai thứ không thể tách rời nhau, vì khi có gió thổi thì mây trời mới bay được. Tuy nhiên, lời chia tay vẫn đến, Thủy vẫn buồn như mang một tâm trạng khó tả.

Hai câu tiếp theo vẫn là sắc màu thơ mộng của sông Tương Hà, nhưng không còn nắng xanh mà là không gian trăng rằm trước mắt người đọc, con thuyền đã trở thành thuyền chở trăng. , dòng sông trở thành Moon River, và bến tàu trở thành Moon Pier

“Thuyền ai ghé sông Trăng có thể đưa trăng về quá khứ”

Xưa nay ta thường bắt gặp hình ảnh thuyền trăng, bến đậu, nhưng nay lại bắt gặp một hình ảnh mới, đó là dòng sông Trăng, đọc bài thơ này người ta ngỡ như mình đang ở trong một giấc mơ. phải sống trong lo âu, chờ đợi. Ở câu thơ thứ nhất, câu hỏi tu từ xuất hiện ở câu đầu, còn ở câu thơ thứ hai, câu hỏi tu từ xuất hiện ở câu thơ cuối. Câu thơ dường như mang lại nhiều cảm xúc “Trăng đã về” là niềm mong chờ, “Đêm nay về” là sự băn khoăn, khắc khoải, ngờ vực, khẩn thiết. Nhưng hình như nhà thơ đã báo trước sự thất vọng, nhà thơ như nhận ra rằng nếu trăng không về đúng lúc thì ông mãi ở trong một thế giới đau đớn và tuyệt vọng.

Bài thơ thành công nhờ sử dụng các biện pháp tu từ như điệp ngữ, câu hỏi tu từ, so sánh nghệ thuật liên tưởng và câu hỏi tu từ xuyên suốt văn bản. Nhà thơ đã vẽ nên một khung cảnh nên thơ và đẹp như tranh vẽ, đầy sức sống trước mắt chúng ta, trong đó là chính trái tim của nhà thơ.

Tóm lại, Làng Vida là một bức tranh đẹp về văn hóa địa phương được miêu tả bằng giọng thơ đa cảm, giàu tình cảm và trái tim nhân ái của nhà thơ. Và Hàn Motu đã thực sự thành công khi thể hiện nhân vật trữ tình – những thay đổi tình cảm với một trái tim nặng trĩu.

Phân tích hai khổ thơ đầu của bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” – Văn mẫu 7

Nói đến Phong trào Thơ mới không thể không nhắc đến Hàn Mai Tử – nhà thơ điên của văn học Việt Nam. Bài thơ “Ngôi làng này là Vader” là kiệt tác tiêu biểu của ông. Hai khổ thơ đầu của bài thơ như một bản trữ tình đẹp đẽ:

“Sao em không về làng chơi, ngắm bình minh lên giàn trầu… thuyền dừng bến sông Trăng đưa trăng sáng đêm nay về”

vi đà – Thiên đường hạ giới tại Thành phố Huế mộng mơ. Câu hỏi tu từ tha thiết vừa là lời trách móc, vừa là lời mời gọi: “Sao em không về làng chơi” thật chân thành, nhẹ nhàng. Giọng thơ được kết hợp trong các câu tinh tế qua vần bằng mà trầm lắng, êm ái đến khó tả. Như câu thơ gợi mở ra vẻ đẹp của thiên nhiên và con người nơi đây:

<3Cây trầu thẳng tắp vươn mình đón nắng, gió thoảng mây và “mặt trời mọc” mang chút tinh khôi, thuần khiết và đẹp đẽ. Vẻ đẹp của nắng vàng tươi không phải là sự chói chang của trưa hè, cũng không phải là sự hoang vắng của hoàng hôn, mà là sự trong trẻo của nắng ban mai. Những hàng cây trầu xanh mướt trông thật đẹp dưới ánh nắng vàng dịu. Trong không gian ấy còn có khu vườn “mát như ngọc”. Bằng những tính từ gợi cảm và màu sắc đặc sắc, tác giả tái hiện khung cảnh vườn cây tươi trẻ, mang sức sống mới, tươi tốt và tràn đầy hy vọng. Vài giọt sương đọng trên lá càng thêm trong vắt, những cành non nở ra màu xanh của lá, tràn đầy sức sống, trong sáng và thuần khiết. “Lá trúc che mặt” – Gương mặt thiếu nữ tạm ẩn trong không gian diệu vợi. Khuôn mặt ấy thật đẹp sau rặng tre xanh dịu. Tất cả tạo nên một vẻ đẹp ấn tượng và độc đáo, người con gái Huế e lệ, dịu dàng, thanh lịch và nhã nhặn, duyên dáng và sang trọng. Cảnh vật và con người bổ sung cho nhau, mang theo tâm hồn khao khát, rạo rực của con người trước vẻ đẹp của thiên nhiên

Nếu đoạn một là cảnh lúc bình minh thì đoạn hai là bức tranh làng quê lúc chiều tối.

“Gió nối tiếp gió, mây nối tiếp mây, nước lượn vòng hoa ngô, thuyền neo sông trăng, đêm nay trăng về đúng lúc”

Thiên nhiên như nhuốm màu buồn chia ly Mây với gió từng đi với nhau như hình với bóng nay đã về bên kia “Gió theo gió, mây theo mây”, và mây lang thang vô định trên bầu trời.buồn. Dòng nước cũng nhân hóa cho tâm trạng bồng bềnh “buồn bã”, và bông ngô đồng thoang thoảng “nằm” trong gió cũng thoang thoảng một nỗi buồn nhớ nhung. Cảnh mang theo lòng người, và dường như đâu đó còn nghe thấy tiếng nói cô đơn, buồn bã của nhà thơ trước sự nhớ nhung và chia tay. Để tĩnh tâm, nhà thơ nhìn ra dòng sông Tương Hà huyền diệu, mặt sông được ánh trăng mờ soi rọi, con thuyền nằm thong dong trên bến thượng nguồn. Cất cánh trên mặt trăng, sông trăng, thuyền trăng, núi cao và biển mây, ánh trăng khắp trời chứa đựng những cảm xúc khó tả. Trăng đẹp nhưng trăng cũng buồn, và bóng tối trong bầu trời đêm tĩnh mịch và yên bình. “Đêm nay có cho trăng về quá khứ” – dòng thơ này như một lời tâm sự, như một lời hỏi han, hơn nữa là cả một sự mong đợi, mong rằng có thể đưa trăng về đúng lúc như nhà thơ đang chờ đợi mảnh trăng của mình. người yêu trở về, để anh ấy có thể cảm thấy thoải mái. Cô đơn quá, bởi trăng như người bạn tâm tình của nhà thơ.

Bằng hình ảnh thơ độc đáo, quen thuộc mà giản dị, Hàn Một Đồ bằng tài năng của mình đã biến cái quen thuộc trở nên mới mẻ, hấp dẫn. Khung cảnh này mang dư vị của cảm xúc và nỗi nhớ của nhà thơ thật tiềm ẩn và sâu sắc. Chỉ qua hai câu thơ, ta thấy được tấm lòng yêu cuộc sống, thiên nhiên chân thành của nhà thơ.

..

Tải file tài liệu để xem thêm phân tích 2 phần đầu tại đây thôn Vĩ Dạ

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục