Phân tích bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải

Phân tích bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải

Tụng giá hoàn kinh sư

>>Để xem thêm các bài viết hay, vui lòng nhấp vào đây<<

Bạn Đang Xem: Phân tích bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải

<3

Gợi ý viết bài

Trần Lượng Khải (1241-1294) là vị tướng có công lớn đánh thắng quân Nguyên-Mông xâm lược trong cuộc kháng chiến chống Nhật Bản (lần 2 và lần 3). Ông học rộng, giỏi văn thơ, lại có tài thao lược, ngoại giao. Ông đã viết một tập thơ dị giáo, trong đó nổi tiếng nhất là “Nian Quan Jing Price”.

Tháng 4 năm 1285, Trần Nhất Duật chém đồ thần để làm lễ giỗ. Tháng 6 năm 1285, Trần Khai Đại đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông tại bến Chương Dương, tiến quân vào giải phóng Thăng Long. Bài thơ gia hoan kinh su được viết sau chiến thắng ở bến Chương Dương.

Bài thơ thể hiện niềm tự hào, niềm vui thắng trận đồng thời thể hiện khát vọng đem tài năng xây dựng đất nước thái bình, bền vững muôn đời.

Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn. Hai câu đầu như hai trang ghi chép chiến trường. Các vị ngữ “lấy sáo” (cướp súng) và “Bành hồ” (bắt quân xâm lược Mông Cổ) được đặt ở đầu câu biểu thị hai thế trận, hai phát súng liên tiếp giáng xuống đầu quân địch, “giết chết ” sức mạnh của kẻ thù. Một vị tướng phàm trần. Zhang Yang và các quan chức, hai công trạng của hai nơi được ghi vào biên niên sử, và quốc thơ bất hủ:

“Sáo độ dương

.

Lời ca như một bản báo cáo trận đánh, réo rắt, đầy tự hào. Anh phải là người tham gia và chỉ huy trận đánh mới có thể viết cô đọng, đĩnh đạc và duyên dáng như vậy.

Ở hai câu cuối đã xuất hiện một hương vị thơ mới. Trên chiến trường đầy khói thuốc súng, trong niềm vui chiến thắng khi quân thù bị thiêu rụi thành tro để giải phóng kinh thành Thăng Long, nhà thơ đã nghĩ ra một nhiệm vụ mới:

“An tâm

Cố giang san”.

Trước mặt mọi người, từ vua, tướng cho đến trăm nghìn hộ dân, toàn dân, ai cũng phải dùng tài năng, sức lực, của cải để xây dựng đất nước thái bình bền vững. Tầm nhìn chính trị của Chen Kai là vô cùng rõ ràng. Đoạn thơ trên có ý nghĩa rất lớn đối với chúng ta hôm nay.

Tóm lại, giá ca tụng danh nhân là một bài thơ vô song. Bản dịch của Trần Trọng Kim rất đặc sắc.

<3

Trang tính

Tụng kinh toàn thư được sử dụng như một trang nhật ký, có bình thơ và văn xuôi, có tính thời sự cao, có đầy đủ các sự kiện lịch sử trong thời đại phong trần. Bộ tứ này anh dũng ghi lại hai chiến công vang dội của quân dân Đại Việt vào mùa Xuân Hạ năm Ất Dậu (1285): trận Hàm Tử và trận Chung Dương. Thừa thắng, quân ta tiến vào giải phóng kinh thành Thăng Long. trần lượng khai kể lại tinh thần quyết thắng này:

“Tiểu Dương giật súng địch,

Xem Thêm: Diễn biến và kết quả Quang Trung đại phá quân Thanh như thế nào

Chức năng bắt địch

Càng yên bình càng tốt,

Có hàng ngàn mùa thu ở đất nước đó. “

Xem Thêm : Văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về Bến Nhà Rồng 2 Dàn ý & 11 bài

Trung tướng Trần Quang Khải là người văn võ toàn tài, là một trong những anh hùng, nhà thơ kiệt xuất thời Trần. Ông là một trong những anh hùng đã dùng tài điều binh khiển tướng lập nên những chiến công hiển hách ở Trương Dương và Chin Death.

Hai câu đầu diễn tả trận thủy chiến ác liệt nổ ra ở mặt trận sông Hồng. Trận tử chiến diễn ra vào tháng 4 năm 1285 và tướng Trần Nhất Duật đã hạ được Du Char. Hai tháng sau, Trần Lượng Đại quét sạch quân Nguyên Mông ở bến Chương Dương. Hàng ngàn tên địch bị tiêu diệt và bị bắt. Quân ta thu giữ được nhiều chiến thuyền, vũ khí, lương thực, cỏ cây của địch ở phía Bắc.

Sử dụng phép liệt kê và phép đối, nhà thơ đã làm nổi bật hai sự kiện lịch sử có ý nghĩa chiến lược xảy ra ở những cột mốc quan trọng bên bến đò và sông Hồng. Vế (chính chương) nói trước, vế trước (phân tử) nói sau: ít nói nhiều ẩn ý, ​​ý niệm nghệ thuật của bài thơ rất thần kỳ:

“Bấm sáo theo độ dương,

Sở hữu giấy chứng tử. “

Hai câu: “Đại Di” (cướp súng) và “Bành Hồ” (bắt cướp hồ) được đặt ở đầu đoạn thơ, làm trọng âm, nhấn giọng trong khúc ca khải hoàn, đồng thời miêu tả cảnh hai đòn trời giáng vào quân xâm lược, Thắng lợi nối tiếp thắng lợi, quân ta đã lập nên những thắng lợi quyết định. Niềm vui chiến thắng tràn ngập lòng người. Từ vua đến tướng, từ hoàng tử đến dân chúng, không một điều bất hạnh, bất hạnh.

“Kinh” của nhà Nguyên ghi: “Thủy binh đến đánh đại bản doanh, trong vòng vây tuy chết rất nhiều, nhưng quân ngày càng nhiều. Đã thế.”

Hai trận thắng ở bến Chương Dương và cửa Hàm Tử đã làm thay đổi cục diện trận địa, quân ta chuyển từ thế rút lui chiến lược sang thế phản kích vũ bão. Chỉ trong một ngày, 50.000 quân Mông Cổ, dẫn đầu bởi niềm vui chạy trốn, tràn vào lãnh thổ của Dayue như một làn sóng dữ dội. Khói lửa bốc lên trời tại Hoàng thành Thăng Long. Kẻ thù như hai gọng kìm sắt tấn công từ hai phía, đánh từ biên giới Nam Quan và đánh từ thành phố. Nước treo ngàn cân treo sợi tóc. Tuy nhiên, dựa vào tài thao lược của Trần Quốc Quân và các tướng lĩnh, quân ta đã “đoạt binh lập trận” chống quân xâm lược. Chiến chương trực diện, tính năng đại thắng. Cờ vua úp ngược. Quân ta giành thắng lợi quyết định, sấm sét giáng xuống đầu quân thù phương bắc. Thành Thăng Long hoàn toàn giải phóng. Quân xâm lược đã bị quét sạch khỏi nước ta. Đó là những ngày vinh quang của dân tộc. Mùa hè năm Ất Dậu (1285) là một mùa hè tràn ngập niềm vui chiến thắng. Những vần thơ của Trần Quang Khải như một cuốn nhật ký trung thực, anh dũng và phẩm cách anh hùng, tạo nên một nét rất đẹp để thơ ca hết mình.

Máu xương của ba quân, sự dũng cảm của các chiến binh, và tài thao lược của nguyên soái… đã làm nên chiến công hiển hách của Trương Dương và cái chết vinh quang. Phải là người trong cuộc, phải là nhà thơ tài ba, Trần Quang Khải mới viết được những dòng hùng tráng như thế! Tác giả bài hát Gia Huấn Kinh Sư là một trong những nhà thơ đầu tiên của Đại Việt đã mạnh dạn đưa những dòng sông núi thân yêu vào lịch sử và thi ca dân tộc: chương dương, hàm tử. Ta đã thấy ngắn gọn là một trong những phẩm chất cấu thành nên vẻ đẹp văn học của thơ chân chính. Chỉ hai dòng năm chữ thôi đã gợi cho nhà thơ bao suy nghĩ, liên tưởng, cảm xúc và ý nghĩa sâu sắc về sức mạnh của Đại Việt.

Từ trong khói lửa chiến tranh, từ trong đống tro tàn của đất nước, nhà thơ nghĩ đến đất nước vì một ngày mai hòa bình. Phần thứ hai của bài thơ kể về suy nghĩ của Chen Guang về đất nước và tương lai của dân tộc. Giọng thơ trở nên trầm trầm. Như một lời tỏ tình, một lời nhắn nhủ:

“Hòa bình và trí tuệ,”

Cố giang san”.

Nhà thơ tự đối thoại, nhắc nhở mình nhiệm vụ trước mắt cũng là nhiệm vụ lâu dài: “Trí bình Du”. Đã dẹp được giặc ngoại xâm, đất nước sẽ thái bình, và các bậc chí tôn, vương hầu phải “tu trí”, tức là phải ra sức làm việc, đem nhân tài, dùng nhân lực, vật lực để dựng nước. . Đó là điều mà nhà thơ muốn nhắn nhủ đến mọi người. Bài thơ này thể hiện tầm nhìn rõ ràng và sâu sắc của Trần Quang Khải, cho thấy tầng lớp quý tộc phong trần là lực lượng tiến bộ nhất, trong xu thế đi lên của lịch sử, đang lãnh đạo đất nước Đại Việt.

Vì sự vững bền của đất nước và “dưỡng trí tuệ” muôn thuở. Ca từ của bài thơ này rất giản dị, nhưng chất chứa trong đó những tư tưởng, ý nghĩa nhắc nhở của nhà thơ không hề tầm thường, giản đơn. Bài thơ này chứa đựng một đại ý. Khi nước Đại Việt bị giặc ngoại xâm đe dọa, “vua tôi đoàn kết, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” (Trần Quốc Tuấn). Trong thời bình, mọi người từ vua đến tướng, vương hầu đến dân thường đều phải biết “dạy khôn” và sống hết mình vì sự trường tồn của Tổ quốc thân yêu: tự hào về quá khứ. Để sống và làm việc sáng tạo, có ích và ý nghĩa:

Xem Thêm: Bức tranh thiên nhiên Tây Tiến siêu hay (11 Mẫu) – Văn 12

“Hòa bình nên được thực hiện,”

Có hàng ngàn mùa thu ở đất nước đó. “

Tóm lại, bài thơ tiễn biệt Bắc Kinh này là một kiệt tác trong thơ cổ Việt Nam. Lời thơ cô đọng, lời thơ giản dị mà sâu sắc. Bài thơ này có giá trị lịch sử to lớn, nó nhắc nhở chúng ta về những năm tháng anh dũng chiến đấu chống quân xâm lược Nguyên Mông. Nó nhắc nhở mỗi người Việt Nam phải nêu cao ý thức trách nhiệm công dân để luôn bảo vệ và xây dựng đất nước hòa bình, giàu đẹp và bền vững. Trên hành trình của dân tộc ta hướng tới thế kỷ 20, đó là mục tiêu “dân giàu, nước mạnh…”. Giá ngâm thơ của Trần quang Khải vẫn mang tính thời sự và thiết thực đối với mỗi chúng ta. Ý thức hào hùng của nhà thơ như ánh sao soi sáng bầu trời quê hương!

Phân Tích ThơhCa Ngợi KinhuĐỉnh Giác.

Đề cương chi tiết

Tôi. Giới thiệu

– Trần Quang Khải (1241-1294) là vị tướng có công lớn trong việc chống Nguyên-Mông. Lịch sử ca ngợi ông là một vị tướng tài ba, văn học tôn vinh ông với những vần thơ sâu sắc và thú vị (Phan Huy Chú – Lịch triều hiến chương loại chí).

– Bài ngâm thơ “Kinh sách” (phú gia về kinh) là một trong 11 bài thơ còn lại của ông và là tác phẩm có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam.

Hai. Nội dung bài đăng

1. Thành phần

Xem Thêm : Tổng hợp kiến thức và giải bài 11 trang 104 sgk toán 9 tập 1

– Cuối năm 1284, quân Nguyên nhân dịp lễ hội bỏ chạy, dẫn quân sang đánh nước ta lần thứ hai. Trước sức mạnh của kẻ thù, Hoàng đế Chen Qingzong và Hoàng đế Chen Renzong phải rời kinh đô để lánh nạn. Nhưng chỉ mấy tháng sau, tức là từ tháng 5 năm 1285 đến năm 1285 (tháng 4 năm Ất Dậu), quân ta bất ngờ phản công và giành thắng lợi hoàn toàn trong trận Hàm Đồ; tháng 7 năm 1285 (tháng 6 năm Ất Dậu). Dậu), Bài viết lại đạt kết quả cao. Kẻ thù đã bị đánh bại hoàn toàn.

– Thừa thắng, Trần Quang Khải là người hộ mệnh cho hai vua về kinh. Trong không khí của ngày khải hoàn, Trần Quang Khải đã có cảm hứng viết bài thơ này.

2. Phân tích

2.1 Tiêu đề

– Niệm kinh là đọc kinh. Nhan đề thể hiện một sự kiện lịch sử nhưng cũng là nguồn cảm hứng sáng tác của nhà thơ. Bởi lẽ, sự kiện vua về kinh đánh dấu chiến thắng của quân ta, khẳng định nước ta hết giặc, Tổ quốc trở lại thời thái bình thịnh trị. Mặt khác, tác giả còn là người góp phần tạo nên niềm vui chiến thắng của cả dân tộc. Như vậy, các sự kiện lịch sử không phải là những con số không có cảm xúc, mà là những cảm xúc đầy chất thơ.

2.2 Hai câu đầu

– Hai chương đầu nhắc lại những chiến thắng quyết định, các chương trực diện và các tính năng tử chiến. Hai nơi này đều có ý nghĩa lịch sử và biểu tượng. Nó mang tính biểu tượng vì từ nay hai địa danh này sẽ ngân vang trong lòng người Việt Nam và trở thành một thời hào hùng trong lịch sử. Hai thế kỷ sau, trong hũ ngô, Nguyễn Trãi tự hào nhắc lại:

Xem Thêm: Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên 2022

Cửa chết bắt sống xe làm,

Dòng sông bạch đằng giết om ma.

Nhìn lại,

Bằng chứng vẫn còn trong hồ sơ.

– Thứ tự của hai nơi hơi đặc biệt. Trận Trương Dương xảy ra sau, nhưng thánh nhân lại nói trước. Điều này phù hợp với tâm trạng thất thường của nhà thơ. Cuộc đấu tranh sau đó mới bắt đầu và dường như vẫn còn nóng bỏng, ai cũng đau lòng, nhất là nhà văn, người đã có công trong chiến công này.

– Giọng điệu của hai câu thơ khác nhau. Câu có động từ mạnh đánh sáo nghĩa là cướp súng, câu thơ nhanh, mạnh thể hiện rõ sự chuyển biến nhanh chóng đột ngột của thế trận, từ rút lui sang đánh giặc, từ kháng chiến lâu dài sang đánh giặc. . Kháng sét tiêu diệt kẻ thù. Câu thứ hai, với giọng văn nhẹ nhàng, diễn tả việc bắt được kẻ thù, nhưng lại dễ dàng lấy mạng chúng.

– Thể thơ ngắn gọn, hàm súc thể hiện niềm tự hào về chiến thắng vẻ vang của dân tộc.

2.3 Hai câu sau

– Nếu hai câu đầu nói về chiến thắng thì hai câu cuối là lời kêu gọi chung sức xây dựng đất nước bền vững. Chen Guangkai không dừng lại ở niềm vui chiến thắng, anh không nghĩ đến việc nghỉ ngơi và hưởng thụ. Ngay trong không khí chiến thắng, ông đã nghĩ ra những kế hoạch lâu dài với tinh thần trách nhiệm và tầm nhìn xa.

– Người cho rằng, một quốc gia hòa bình không chỉ là chấm dứt chiến tranh, mà hòa bình phải là một quốc gia mãi mãi bền vững, mang lại hạnh phúc và ấm no cho nhân dân. Nhưng để có hòa bình thì phải có nỗ lực của cả một quốc gia. Bài thơ như một lời độc thoại, đồng thời thể hiện niềm tin và hi vọng vào sự phát triển bền vững của đất nước.

– Nếu như hai câu đầu cho ta cảm nhận được vẻ đẹp oai hùng của vị tướng thì hai câu cuối lại cho ta cảm nhận được vẻ đẹp trí tuệ và đạo đức của nhà thơ Trần Quang Khải.

iii. Kết luận

– Đoạn thơ này thể hiện niềm vui sướng, tự hào vô cùng của tác giả trước thắng lợi vẻ vang của dân tộc, đồng thời khẳng định quyết tâm ngàn năm dựng nước của dân tộc.

– Thơ ca là niềm tự hào, hân hoan trước chiến công hiển hách của dân tộc, là niềm tự hào của tuổi thanh xuân, là niềm tin vào một nền hòa bình vững chắc. Những cảm xúc ấy ẩn chứa trong thể thơ ngũ ngôn chắc gọn, súc tích, không hoa mỹ, rườm rà. Đây cũng là nét độc đáo của những bài thơ về tác giả với tư cách là một vị tướng.

Tập thể dục

Chủ đề 1: Vẻ đẹp trí tuệ và đạo đức của nhà thơ.

dChủ đề2. Phân tích nghệ thuật ngôn từ trong bài thơ trường ca “Giả Hoàn cảnh thư” của Trần Quang Khải.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục