[Sách Giải] Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn hà)

[Sách Giải] Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn hà)

Sông núi nước nam vua nam ở

Xem toàn bộ tài liệu Cấp độ 7: tại đây

Xem thêm sách tham khảo liên quan:

Bạn Đang Xem: [Sách Giải] Sông núi nước Nam (Nam quốc sơn hà)

  • Sách biên soạn-phê bình-sách Ngữ văn lớp 7
  • Bài tập ngữ pháp lớp 7
  • Tác giả – Ngữ văn lớp 7
  • Sách Ngữ Văn Lớp 7 Tập 1
  • Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 Tập 2
  • Sách sáng tác-kể chuyện-văn học lớp 7 (giản thể)
  • sáng tác – văn nghị luận – sách ngữ văn lớp 7 (rất ngắn)
  • Sách Giáo Viên Ngữ Văn Lớp 7 Tập 1
  • Sách Giáo Viên Ngữ Văn Lớp 7 Tập 2
  • Sách bài tập Ngữ Văn Lớp 7 Tập 1
  • Sách bài tập Ngữ Văn Lớp 7 Tập 2
  • Tiêu đề: Phân tích phong cảnh miền Nam

    Bảng tính

    Vấn đề chủ quyền quốc gia luôn là một chủ đề nóng bỏng không chỉ hiện nay mà cả trong quá khứ. Nam Cương Sơn có thể nói là nơi đầu tiên của nước ta tuyên bố độc lập và chủ quyền. Bài thơ này thể hiện ý chí ngoan cường, quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của tổ tiên.

    Về xuất xứ của bài Giang Sơn Thủy có nhiều ý kiến ​​khác nhau, nhưng đều có một điểm chung là sự ra đời của bài thơ này gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Quốc gia. Do có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc tác phẩm nên bài thơ thường được khuyết danh. Giang sơn quốc gia có thể coi là bản tuyên ngôn độc lập dân tộc, chứa đựng hai nội dung lớn: sự khẳng định nền độc lập dân tộc và quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc.

    Hai câu đầu khẳng định nền độc lập dân tộc dựa trên lãnh thổ và chủ quyền:

    Hoàng đế Nam Quốc Sơn Hà Nam

    Sinh ra để làm như vậy.

    Trước hết, về mặt chủ quyền, Đại Việt là một quốc gia có chủ quyền riêng, điều này thể hiện rõ qua câu “nam thần đô hộ”. Trong bản dịch, bài thơ được dịch là “nam vương ở”. Ở đây chúng ta cần phân biệt rõ giữa thầnvua, vì đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Hoàng đế là quyền lực duy nhất, toàn năng và tối cao; vua có nhiều, nó phụ thuộc vào hoàng đế, và quyền lực nằm sau hoàng đế. Do đó, khi từ do được sử dụng trong bài viết, nó khẳng định mạnh mẽ quyền của chế độ quân chủ đối với vương quốc phía nam, và khi sử dụng “Nam hoàng đế”, nó ngang bằng với “Bắc đế” , Yu Beidi độc lập và độc lập.

    Về lãnh thổ, nước ta có phạm vi riêng đã được sách trời quy định. Theo hồ sơ quốc gia, nó nằm ở phía nam của núi Wuzu thuộc địa phận của Phòng khám Xingyixing. Việc dựa vào thiên kinh để khẳng định chủ quyền của một nước phù hợp với tâm lý, tín ngưỡng của con người xưa (niềm tin thiên mệnh) nên có sức thuyết phục cao hơn. Đồng thời, sách trời ở đây cũng tương ứng với chân lý khách quan, và tác giả cũng dùng điều này để ngầm khẳng định nền độc lập của nước ta là chân lý khách quan chứ không phải ý chí chủ quan.

    Hai câu sau khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân ta. Trong hai câu thơ này, tác giả dùng từ “nghịch” với hàm ý miệt thị – kẻ thù làm ngược lại và gọi kẻ xâm lược. Ngoài việc vạch trần sự bất công của chiến tranh, tác giả còn đưa ra dạng câu hỏi “như ha” (tại sao). Vì những gì họ đã làm là bất công và trái với sự thật khách quan nên họ phải phục thù chiến bại. Câu cuối vừa là lời khẳng định, vừa là lời cảnh cáo, cảnh báo trước hành động xâm lược của chúng: Invade Dai Viet and you’re Akeke.

    Bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn cô đọng, trong sáng. Tác phẩm chỉ có 28 nhân vật nhưng chứa đựng những tư tưởng, tình cảm lớn lao: khẳng định độc lập, chủ quyền của đất nước, đồng thời thể hiện quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Ngôn từ cô đọng, gợi cảm: Nam đế, đục lỗ, như hà… Kết hợp các phương thức biểu đạt: Thơ có phần bề thế hơn, nhưng lại hàm ẩn. tác giả. Lời thơ hùng tráng, hào hùng, tự tin.

    Xem Thêm: Bài tập 39,40,41, 42,43 trang 43 Toán 7 tập 2: Đa thức một biến

    Bài thơ ngắn gọn, súc tích nhưng không có tình cảm cao đẹp. Văn bản này là bản tuyên ngôn độc lập và chủ quyền quốc gia đầu tiên của nước ta. Nó đã xây dựng niềm tin và lực lượng chính nghĩa cho nhân dân Trung Quốc trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

    Đề: Hãy phát biểu cảm nghĩ của em về bài thơ Phong cảnh của Lý Thượng Kiệt.

    Bảng tính

    Theo truyền thuyết, kiệt tác của Li Shang đã viết một bài thơ khi chúng tôi chiến đấu chống lại đội quân xâm lược. Tác giả không chỉ là một vị tướng tài ba, mà còn là một nhà thơ nổi tiếng.

    Xem Thêm : Hướng dẫn Giải bài 42 43 44 45 trang 54 55 sgk Toán 8 tập 1

    Cuối năm 1076, đại quân hàng chục vạn cử hai tướng quỳ mọp triệu các thủ lĩnh sang cướp nước ta. Quân ta dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt đã anh dũng chiến đấu, chặn đứng tiền tuyến bên dòng sông như trăng như nước. Truyền thuyết kể rằng vào một đêm nọ, những người lính trong chùa nghe thấy Chang Hong và Chang Xing (hai vị tướng của Quân đội Wan Guang đã chết vì đất nước của họ) ngâm bài thơ này. Điều này có nghĩa là các vị thần và tổ tiên đã giúp đỡ quân đội của chúng tôi. Bài thơ góp phần khích lệ lòng quyết tâm chiến thắng quân thù của quân sĩ, buộc họ phải rút lui nhục nhã vào tháng 3 năm 1077.

    Cho đến ngày nay, người ta thường tin rằng Tướng Lee viết bài thơ chỉ để khích lệ tinh thần. Đương nhiên là như vậy, nhưng câu thứ tư (như xâm phạm) rõ ràng là cảnh cáo quân tử. Vì vậy, đối tượng nghe thơ vừa là quân ta, vừa là quân địch. Đó là lý do tại sao bài thơ này được coi là văn bản của kẻ thù được thiết kế để làm lung lay ý chí chiến đấu của đối thủ.

    Tác giả khẳng định nền độc lập và chủ quyền của nước Nam là một sự thật không thể phủ nhận. Từ bao đời nay, dân tộc Việt Nam đã anh dũng chiến đấu giữ gìn biên cương, bảo vệ chủ quyền thiêng liêng.

    Bài thơ “Sông núi nước Nam” thể hiện niềm tin tưởng, tự hào rằng chính nghĩa của dân tộc ta có thể tiêu diệt bất kỳ kẻ thù hùng mạnh nào dám xâm lược đất nước này. Vì vậy, nó có ma lực cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân và dân ta, răn đe quân xâm lược, làm nên chiến thắng vẻ vang. Tinh thần và sức mạnh của bài thơ toát ra từ những lời khẳng định dứt khoát, đanh thép như một nhát dao.

    Một bài thơ không tên lưu giữ từ xưa. Sách thường lấy câu đầu “nam quốc sơn hà” làm tựa bài thơ (tạm dịch là sông nam quốc sơn hà):

    Câu đầu tiên biểu đạt ý tứ: Giang sơn thủ nam, quân nam. Nói dân sống ở phương Nam thì đúng hơn, nhưng ở thời đại đó, vua đại diện cho đất nước và quốc gia. Sự thật đơn giản và rõ ràng, nhưng nhân dân ta phải chống giặc ngoại xâm bao đời nay mới giành lại được.

    Từ khi có chủ quyền cho đến năm 1076, dân tộc Đại Việt đã nhiều lần thể hiện điều này bằng sức mạnh quân sự của mình. Quân xâm lược phương Bắc xưa nay độc đoán, luôn có tham vọng cướp nước nên vẫn ngoan cố.

    Câu này có ý nghĩa hơn thế. Tác giả tự xưng là người nước Nam, cốt để đánh tan thái độ khinh địch đã có từ lâu trong lòng bọn đạo tặc. Đặt đất nước của bạn (Nam) và (Bắc) ngang hàng với nhau. Xưng nam vương (nam đế) cũng là để bác bỏ thói kiêu ngạo của các vua phương bắc hoặc tự xưng là thiên tử (con trời), coi thường vua các nước chư hầu mà xưng vương. Các từ Nanguo và Nanwang vang lên đầy tự hào, thể hiện thái độ tự hào, lòng tự trọng và cử chỉ tự hào về việc thống trị đất nước của người Việt. Đây không chỉ là lời nói. Cuộc tấn công quy mô lớn của quân đội chúng ta vào các căn cứ cướp biển cách đây vài tháng là bằng chứng cho điều đó. Vì vậy, những sự việc trên là có cơ sở.

    Ngày ấy, triều đình nhà Tống phải “dính binh hỏi tội” tôi vì tội dám làm loạn vùng biên ải. Đầu năm 1076, quân ta tiêu diệt các cứ điểm lương thực, vũ khí, binh lực… chuẩn bị đánh giặc. Vì vậy, Li Shangjie lặp lại nguyên tắc này, để những người ở phía nam một mặt cầm chắc kiếm để giết kẻ thù, mặt khác vạch trần bộ mặt bất chính của kẻ thù và đánh mạnh vào tinh thần của họ.

    Xem Thêm: Bài 17: Một số giun đốt khác và đặc điểm chung của ngành Giun đốt

    Câu thứ hai: Thiên sách tự nhiên có mệnh (sách chia nước từ sách trời) Nhất định chủ quyền của nước Nam đã rõ ràng được viết trong sách trời. Thiên sách được phân phát cho nam vương có lãnh địa riêng.

    Người xưa tin rằng đất dưới mặt đất tương ứng với các vì sao trên bầu trời. Nước nào có vua? Vì thánh ý Thiên Chúa là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Đoạn thơ này nhuốm màu linh thiêng, càng làm cho sự thật đã nêu ở câu trước càng thêm giá trị.

    Câu thứ ba: Hình như là lỗ hổng nguy hiểm xâm nhập linh tinh? (Tại sao kẻ thù đến đây?) là một câu hỏi nghiêm trọng đối với tướng địch. Nền độc lập và chủ quyền của nước Nam không phải chỉ là chuyện của người ta, mà còn là chuyện tranh cãi (hiển nhiên) trên trời, không thể phủ nhận mà ai cũng phải biết và phải tôn trọng. Vậy tại sao kẻ thù dám xâm lược? Câu hỏi này đồng thời thể hiện sự tức giận và coi thường của tác giả. Tại sao một vị tướng tự xưng là thiên triều lại dám làm trái mệnh trời? Coi thường họ vì coi họ là những kẻ nổi loạn, tức là những tên cướp ngỗ nghịch, ngang ngược. Gọi họ là những kẻ phản hố vì tác giả đặt nhân dân Việt Nam vào vị trí chủ nhà, tin rằng họ có đủ sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền và độc lập.

    Tác giả củng cố sự khẳng định của những sự thật hiển nhiên nêu trên bằng cách so sánh rõ ràng sự cai trị bất công của kẻ thủ ác với chính đạo và thiên kinh của nước Nam.

    Câu thứ tư: ta sợ hỏng (ta sợ hỏng), thơ lục bát, không ngừng tỏ ra khinh thường quân thù và niềm tin sắt đá vào quân thù, quân ta nhất định thắng lợi.

    Ở trên, tác giả gọi kẻ xâm lược là kẻ thù, là kẻ thù, thì đến câu này, tác giả gọi đích danh như thể trước mắt mình: bạn. Cách họ gọi mình chẳng khác gì Shangxia, hàm ý khinh thường, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo họ: nhất định phải hỏng. Nó giống như một sự kiện trọng đại đã được sắp xếp từ lâu, chỉ còn chờ kết quả. Chuyện gì sẽ xảy ra? Bạn không chỉ thua, mà còn thua nặng nề và thất bại nặng nề. Một trăm vạn quân địch, do hai tướng giỏi chỉ huy, quân ta sẽ dễ dàng, nhưng vì hành động bất chính, chắc chắn sẽ bị diệt vong. Ngoài lời cảnh báo kẻ thù, bài thơ này còn thể hiện niềm tin mãnh liệt và niềm tự hào cao cả vào tình đoàn kết của quân và dân ta.

    Thành ngữ Trung Quốc: Danhhan Hanshoubai, có nghĩa là: nhìn lại, chuốc lấy thất bại. Sự thất bại tan nát của kẻ thù là điều tất yếu, bởi chúng là những kẻ dám xâm phạm đến những điều thiêng liêng nhất của đạo trời và lòng người.

    Một lần nữa, nguyên tắc độc lập rất phổ biến, là mệnh trời của nước Nam, được tác giả khẳng định bằng tất cả sức mạnh của kẻ thù yêu nước.

    Một bài thơ thần thánh ra đời trong những hoàn cảnh cụ thể và nhằm một mục đích cụ thể. Cuộc chạm trán giữa quân ta và địch trên sông nước như trăng trối, thế như chẻ tre. Để củng cố quân ta và đánh chí mạng vào tinh thần quân địch, bài thơ này đã vang lên đúng lúc và lan truyền nhanh chóng. Có thể hình dung rằng lúc bấy giờ, quân dân ta như được tôi luyện trong lửa thiêng, sôi máu, hừng hực khí thế giết giặc.

    Xem Thêm : Bài thơ: Bác ơi Sáng tác năm 1969, in trong tập Ra trận

    Sự thật của bài thơ này có giá trị vĩnh cửu, bởi nó khẳng định sự bất khả xâm phạm về chủ quyền độc lập của nước Nam. Ảnh hưởng to lớn và mạnh mẽ của bài thơ không chỉ giới hạn trong hoàn cảnh đương thời mà còn tiếp tục. Hơn mười một thế kỷ nay, quân xâm lược phương Bắc đã âm mưu thôn tính nước ta, nhưng nhân dân ta đã đồng lòng đứng lên đánh đuổi chúng, bảo vệ chủ quyền.

    Chỉ bằng bốn bài thơ ngắn, Lý Thượng Kiệt đã khẳng định chắc nịch chân lý độc lập, tự do, đồng thời lên án sự ngu xuẩn của những hành động hiếu chiến và sự thất bại tất yếu của những hành động táo bạo. vi phạm trắng trợn sự thật này.

    Trong hoàn cảnh cụ thể của cuộc chiến khốc liệt, nhất thiết phải khẳng định lại độc lập, chủ quyền của nước ta để đánh tan tham vọng xâm lược của bọn thổ phỉ. Vì vậy, cho đến nay, có nhiều ý kiến ​​cho rằng “Sông núi nước Nam” của Lý Thượng Kiệt là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam và dân tộc Việt Nam.

    <3

    Bảng tính

    Lòng yêu nước là nguồn cảm xúc dồi dào xuyên suốt hàng ngàn năm của văn học Việt Nam. Trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, nội dung của chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện ở những khía cạnh khác nhau. Bài thơ “Sông núi nước Nam” được cho là một kiệt tác sáng tác trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và được coi là lần đầu tiên dân tộc Việt Nam tuyên bố độc lập. Bài thơ thể hiện sự khẳng định độc lập, chủ quyền và quyết tâm bảo vệ nó trước mọi kẻ thù xâm lược.

    Xem Thêm: Hàng trăm mảnh đạn trong đầu gây đau nhức khiến người thương

    Nói về sự ra đời của bài thơ này, có nhiều câu chuyện khác nhau, trong đó có truyền thuyết, năm 1077 sau Công nguyên, khi quân sang xâm lược nước ta, Lý Thượng Kiệt dẫn quân giết giặc trên sông Như Nguyệt. Sự ra đời của thơ gắn liền với tín ngưỡng tâm linh khiến thơ vừa hào hùng vừa thiêng liêng.

    Hai câu thơ đầu, tác giả khẳng định chân lí độc lập:

    “Khu dân cư đảo Nanguoshan Hà Nam”

    Tiếc rằng có mệnh trời”

    Trong quan niệm đương thời, “đức” là đại biểu của dân đối với nước nên điều thơ cần hiểu là sông núi nước Nam là của người nước Nam. Chân lý tưởng chừng đơn giản và rõ ràng này đã phải đổ bao mồ hôi, máu, nước mắt và cả sự hy sinh của cha tôi. Chính vì vậy Nam Bộ là vùng đất thiêng liêng anh hùng không ai được phép xâm phạm. Phần đầu là lời tuyên bố hùng hồn, hùng hồn về chủ quyền, lãnh thổ quốc gia. Tác giả gọi nước mình là “Nam quốc” và gọi vua nước ta là “Hoàng đế”, đó là một cách thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Xưa các nước phương bắc thường coi thường khinh thường nước ta, cho rằng Đại Việt là một nước chư hầu đô hộ chứ không phải là một nước độc lập, còn vua ta chỉ là một thái tử dưới quyền chúng, ngày ngày phải triều cống. Chỉ với tên gọi này, tác giả đã so sánh nước phương Nam với các nước khác, đồng thời khẳng định nước ta là một nước độc lập, có chủ quyền và lãnh thổ riêng, không chịu sự ràng buộc của bất kỳ thế lực nào. Chúng ta cũng là những vị hoàng đế sáng suốt và tài giỏi không thua kém các vị vua của bất kỳ quốc gia nào. Bài thơ này không chỉ khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc mà còn cảnh báo trước thói ngông cuồng, ngông cuồng của chủ nghĩa đế quốc phương Bắc.

    Tính xác thực của độc lập, chủ quyền dân tộc không chỉ được chứng minh bằng các bằng chứng thực nghiệm, mà còn được xác nhận bằng “kinh trời”. Từ “Đương nhiên” rất kiên quyết, rất kiên quyết, rất kiên quyết, nhưng không ai có thể phản đối. Sông núi nước Nam do sách trời định, có thần linh chứng giám nên rất linh thiêng, bất khả xâm phạm. Bất cứ ai dám phản đối việc bôi nhọ ở biên giới phía Nam là nghịch trời và sẽ bị trừng phạt thích đáng. Những vần thơ thiêng liêng càng làm cho chân lý độc lập trở nên thiêng liêng và quý giá hơn.

    Sau khi khẳng định một cách hùng hồn nền độc lập và chủ quyền quốc gia, tác giả đã đưa ra lời cảnh báo nghiêm khắc với kẻ thù:

    “Giống như một tên khốn phản bội?”

    Kẻ xấu đã bị đánh bại

    Câu hỏi vang lên rền rĩ, kiên định và chắc chắn đối với kẻ xâm lược. Coi chúng là “thù địch” có nghĩa là tác giả đã phân biệt rõ ràng tính chất chính nghĩa và phi nghĩa của chiến tranh. Nếu chúng ta đấu tranh cho công lý, chúng ta sẽ gặt hái được thành quả chiến thắng, và những kẻ thù ác và bất công sẽ phải gánh chịu hậu quả. Câu này thể hiện rõ thái độ tức giận, phẫn uất của tác giả đối với những kẻ thù ngang nhiên vi phạm chân lý và thánh ý Chúa. Càng tức giận, tham vọng càng cao.Câu cuối như một lời cảnh cáo mạnh mẽ đến những kẻ thù vô nhân đạo, có sức mạnh cảnh cáo rất lớn:

    “Những kẻ xấu đã bị đánh bại”

    Từ trước đến nay, tác giả trực tiếp gọi địch nhân là “Ngươi”, khinh thường. Bài thơ này thể hiện ý chí quyết chiến chống quân xâm lược và niềm tin chắc chắn rằng chúng nhất định phải bị đánh bại. Bài thơ thuộc thể thơ bảy chữ ngắn gọn, súc tích, giọng điệu hùng hồn, mạnh mẽ, lấy bối cảnh Kháng chiến chống Nhật làm bối cảnh, có ý nghĩa cổ vũ rất lớn. , truyền cảm hứng, và khơi dậy tinh thần chiến đấu. Đó cũng là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với kẻ thù xâm lược.

    “Sông nước Nam” là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam với tình cảm yêu nước mãnh liệt. Tinh thần yêu nước có sức cổ vũ quân dân, răn đe quân thù với bản Tuyên ngôn độc lập và chủ quyền, sau đó được mở rộng và phát triển trong hai bản tuyên ngôn vĩ đại của dân tộc là Bình Ngô đại cáo và Bình Ngô đại cáo. Tuyên ngôn độc lập.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục