Ghế Trên Ngồi Tót Sỗ Sàng – Cảm Nhận Về Đoạn Trích Mã Giám

Ghế Trên Ngồi Tót Sỗ Sàng – Cảm Nhận Về Đoạn Trích Mã Giám

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng

Qua phân tích các đoạn code mua hôm trước, các bạn sinh viên đã phần nào nhận diện được sự lố bịch, lừa đảo của các đoạn code sinh viên. Phân tích nhân vật người học sinh trong bài thơ, người học sinh mang mật danh học sinh, các em sẽ cùng các bạn tìm hiểu kĩ hơn về nhân vật này. Bạn đang nhìn: một chiếc ghế ngồi trên đó.

Bạn Đang Xem: Ghế Trên Ngồi Tót Sỗ Sàng – Cảm Nhận Về Đoạn Trích Mã Giám

Phân Tích Tính Cách Mã Học Sinh Trong Việc Xuất Bản Đoạn Trích Mã Học Sinh

Bài mẫu 1: Phân tích tính chất của mã học sinh trong bài thơ Mã học sinh được mua dưới dạng mã thầy

Trích đoạn “Nội quy dành cho lưu học sinh Hoa kiều” mở ra cuộc đời 15 năm của một cô nhân tình Việt Nam lang bạt, khổ cực. Toàn bài thơ có 34 câu, từ đoạn 619 đến đoạn 652 của Kiều Khiêu.

Bài thơ tái hiện cảnh buôn người thời trung đại, đồng thời thể hiện bút pháp tự sự, miêu tả bản chất con người của thi hào Nguyễn Du. Nét đặc sắc nhất là nghệ thuật khắc họa mã số, tính cách của học sinh.

Trước khi gia đình biến đổi, Joe là một người con hiếu thảo đã bán mình để cứu cha khỏi tù:

Âm mưu nghĩ trừng phạt hèn hạ.

Khách mua kiều là “khách qua đường” được bà mối đưa vào để “hỏi tên” và ngỏ lời cầu hôn! Phần giới thiệu có vẻ trang trọng. Liệu “lữ khách” có tìm đến mỹ nữ để “cầu hôn?”.

Có một phụ nữ trong khu vực, vui lòng tìm kiếm hành khách.

Vị khách tự giới thiệu mình là một “học giả” – học trò của trường Quốc Tử Giám, chỉ nói mình rất cao quý mà không cần gọi tên, rồi giới thiệu quê quán: “Huyện Lâm Thành cũng ở gần đây”. Từ “ấy” lần lượt xuất hiện, thể hiện thái độ ngạo mạn coi trời bằng vung. Chữ “hành khách” hợm hĩnh và thô lỗ, thô lỗ :

Hỏi tên, rằng: “mã trường”, hỏi quê quán, rằng: “huyện lam thanh cũng ở gần đây”.

Đọc “Chuyện Hoa Kiều” để hiểu nguồn gốc của “Kẻ”. Y và mẹ là thí sinh trong “Trẻ hóa”. Sống ở Linzhi “bán bột và hương quanh năm”. Đối với học sinh trường quốc tử giám “huyện lâm thành cũng gần” thì việc tự giới thiệu mã số học sinh chỉ là một kiểu khoe mẽ, một kiểu lừa bịp. Hành khách chẳng qua là những kẻ buôn người “được ăn ở miền trăng hoa”.

Đây là bức chân dung huyền thoại của một thương gia có họ:

Hơn bốn mươi tuổi, râu ria xồm xoàm, quần áo chỉnh tề.

Tính cách của anh dần được bộc lộ. “Bóng bẩy” của một người đàn ông tạo ấn tượng về sự thô tục và tầm thường, phần “bảnh bao” của trang phục cho thấy một tính cách giả dối. “Râu mượt” và “Dân chơi” là hai hình ảnh, hai bức tranh biếm họa của học trò mã “Vẫn là thằng nhóc quen thuộc”.

Lần đầu tiên kim trong nhìn thấy thuý kiều, người đẹp không thể nào quên được hình ảnh tao nhã ấy:

<3

“Mấy cậu” là những đứa trẻ đáng yêu. Mã giám thi cũng là thầy-tôi, cũng có “đi trước đón sau”, tỏ vẻ sang trọng, mỗi bước đi đều có người đưa đón, hầu hạ, nhưng là giữa thầy và tôi. Tại sao hành vi “làm phiền” của vị khách này lại ồn ào, lộn xộn, thô lỗ, vô kỷ luật, ác ý:

Trước mặt thầy, tôi lúng túng

Vừa được bà mối “rước” về, cách làm, dáng đứng, dáng ngồi của cậu học sinh lại càng thấp hèn, còn hợm hĩnh:

Ngân hàng xếp hàng ở tầng trên và chỗ ngồi ở tầng trên thật thô lỗ.

Xem Thêm: Sông mê kông chảy qua khu vực nào của châu á?

Lối “ngồi” là lối của người bán rong, lối của “đồ tể”, lối của “con buôn người”. Điệu bộ “khóc” là của một người thiếu cá tính, thiếu lễ độ, tác phong, thiếu lòng tự trọng. Anh ta có thái độ coi thường phẩm giá con người. Ai chỉ biết rằng “trăng hoa kiếm sống” có cái cách “ngồi” và cái cách đi “ẩu”!

Thân sinh ra là một gã đồ tể chuyên bán thịt người với cốt lõi là “quanh năm bán cỏ lau”. Ông mai “kéo tóc, bắt tay” các thứ, ông “cân” tài, ông “ép”, ông “thử”, ông bắt Joe đánh đàn, làm thơ một cách trầm tư. “Màu cờ sắc áo” với anh chỉ là hàng hóa thôi :

<3

Xem Thêm : Giải bài 19 20 21 22 23 24 25 26 trang 75 76 sgk Toán 9 tập 2

Chỉ sau “Ngọt ngào và đẹp trai”, tên mã mới “Bất kỳ hỗ trợ” mới bắt đầu được mua và bán. Dù là “ngọc mua”, dù có nâng giọng đến mức “độc thân” thì vẫn là “chim cò”, có khi “bớt một”, có khi “thêm hai”. Thời gian mặc cả để làm đẹp đi từ “dài” đến “giảm rõ rệt” :

Cò giảm một, hai, giá vàng giờ hơn 400.

Cảnh “Mã học sinh mua Hoa kiều” thể hiện sự thông minh và tài năng của Nguyễn Du. Nhà thơ tố cáo, lên án và khinh miệt những “lò sát sinh và bọn buôn người” trong một xã hội thối nát qua tính cách của những người học sinh. Tài năng của một người phụ nữ đã trở thành một món hàng, và nhân phẩm của cô ấy đã bị chà đạp thành bùn! Câu ca “Tiền có hết rồi, làm chi!” là lời lên án mạnh mẽ những kẻ bất lương mượn thân xác phụ nữ để làm giàu.

Nguyễn Du sử dụng bút pháp nghệ thuật hiện thực, chọn lọc những chi tiết tiêu biểu, đặc sắc nhất từ ​​trang phục, ngoại hình, cử chỉ, ngôn ngữ, nghiệp vụ… để khắc họa nhân vật. Anh ta là một kẻ hung hãn, gian trá, đê tiện, cũng “bất nhân bạc nghĩa” như chính người phụ nữ đã làm nhục anh ta.

Những con chữ nhà thơ viết ra có một ma lực ghê gớm, tạo nên những hình ảnh sắc nét như: uyển chuyển, sang chảnh, luộm thuộm, luộm thuộm, cà kheo, cò… Hình tượng các nhân vật trong bức tranh “Ru Yan Qiao” đã trở thành một xã hội Điển hình của việc “bán hương bột” càng làm nổi bật giá trị đích thực của kiệt tác này.

-Hết Bài 1-

Vì vậy chúng tôi đề nghị tiết học sau nên phân tích bản chất của mã học sinh trong bài thơ mua kiều của cô giáo học sinh Mã, các em cần chuẩn bị kỹ nội dung viết bài tập làm văn trên lớp: nghe, kể lại câu chuyện: tại sao phải thay đổiviết một bài hát hay để học ngữ văn tốt hơn.

Bài mẫu 2: Phân tích đặc điểm của mã học sinh trong đoạn trích Mã Giám Sinh

Shengtu code dài 34 câu, trích từ chương 618-652 của Kiều truyện, bị thương nhân vu cáo, cha và anh vào tù, tài sản gia đình bị bọn tội phạm chiếm đoạt. “Sành sạch để lấp đầy túi tham”. Trước cảnh gia đình ly tán, Kiều quyết định: “Con bán thân cho cha cho dễ!”.

Đoạn thơ ghi lại cảnh cô giáo tập sự sang nước ngoài mua đồ và cuộc gặp gỡ của cô trước bi kịch gia đình và bi kịch tình yêu “chiếc bình vỡ chiếc xe điện”.

Bài thơ này tả cảnh buôn người thời trung đại thật cụ thể và sinh động. Người mua là giấy khai sinh, còn người bán là bà mối. Người bị bán là thuy kiều. Khi khách nước ngoài đến, bà mối đón họ lên lầu. Bà mối giục “ra” để khách gặp mặt. Bà mối “lắc” đồ, mã học sinh “cân đo đong đếm”. Khi khách cảm thấy “mặn mà đáng tiền” mới hỏi giá. Bà mối: “Nghìn vàng”. “Chim cò” của đôi bên được mua bán với giá “cục vàng bốn trăm”. Sau khi mua bán xong, hai bên làm thủ tục: “! Tặng Tangka”, và hẹn ngày giao hàng. Buôn người được dùng với những từ ngữ ngông cuồng như: mua ngọc bội nghĩ, nạp thẻ cho nghi phạm, nạp Thái vu quy. Cũng giống như cảnh kén vợ, thách cưới lớn của các gia đình quý tộc xưa. Xem thêm:

Cảnh mật thám mua chuộc người nước ngoài là một hiện thực lên án sâu sắc. Trong xã hội có kẻ bán thịt người, cũng có kẻ làm mối kiếm sống bằng nghề làm mối. Tài sắc của những cô gái như Thúy Kiều đã trở thành món hàng mua bán. Nhân phẩm của người phụ nữ bị chà đạp. Dòng “tiền đến, việc chưa đến” là lời bình luận về giao dịch, lên án đồng tiền vào tay bọn buôn người, bọn lừa đảo, mặt trái của đồng tiền.

Một bài thơ thể hiện nghệ thuật viết người của Nguyễn Du.

Bà mối: Chẳng mấy chốc, tên và quê quán của hành khách được mạnh dạn hỏi, sau đó được “xử lý vào lớp trang”. Thúc kiều mau rời đi (hôn), “vén tóc bắt tay” kiều, bất chấp giá mềm:

Link: Nghìn vàng tan cửa nát, ơn người dám can gián!

Việc tác giả miêu tả cử chỉ, ngôn ngữ của cô bé bán diêm cho thấy anh ta là một người nhanh nhẹn, lém lỉnh, mưu sinh bằng nghề bán mối.

Xem Thêm: Học vẹt | Giải thích Thành ngữ – Tục ngữ

Mã sinh viên là “khách” để “hỏi thăm”-một người khách đến hỏi vợ về một cuộc vui. Phần giới thiệu có vẻ trang trọng. Hai câu tiếp theo là “hỏi-đáp”. Câu trả lời ngắn. vô lễ. Từ “ấy” khiến câu nói trở nên thô tục hơn:

Hỏi tên tức là: “mã số cố vấn”, hỏi quê quán tức là: “huyện Lân Thành cũng gần.

Nữ sinh tựa vào bà già mở quán cơm xanh ở Lâm Chi nhưng nói dối quê mình “gần âm”. Anh ta chỉ là một kẻ buôn người, nhưng lại khoe khoang một cách mơ hồ rằng mình là học sinh của Học viện Hoàng gia, và họ của anh ta là một trí thức phong kiến ​​thuộc hàng quý tộc. Dần dần bộc lộ cá tính. Ngoài bốn mươi vẫn đẹp trai: “bóng bẩy” và “dân chơi” là hai nét mỉa mai:

Hơn bốn mươi tuổi, râu ria xồm xoàm, quần áo chỉnh tề.

Đó là “thầy” và “tôi”, “trước” và “sau”, có vẻ rất xa hoa, và có người hầu ở mỗi bước, nhưng chủ nhân, tại sao tôi lại? nghi lễ! Điệu bộ “khóc lóc”, không biết ý tứ, cũng không biết lễ độ thế nào mà dám trèo lên ghế cao “ngồi”! Nếu là học trò thật của quốc tử giám thì tội nghiệp!

Trước thầy, sau tôi xô, ngân dẫn cả đoàn vào lầu, ghế trên lầu ngồi thô sơ…

Một từ “gâu” đầy khinh thường đã phơi bày sự thật về kẻ “đã từng làm mồi chài ở Yuehuayu”

“Cân”, “ép”, “kiểm”,… tư thế và cách thức mua hàng của dân buôn mã kiểu mới, ghê chết! Chỉ có “mỹ nam” sau khi có mã sinh viên mới “giúp” mua bán. Trong tất cả những thủ đoạn đáng buồn của nạn buôn người, anh ta là nhà thông thái của thế giới. Thanh lịch như bất cứ ai. Chỉ là hoa sói nước mặn thôi mà :

Câu “Mua ngọc cho Lan Kiều” bao nhiêu lần ước được dạy tường.

Chữ “cò” bộc lộ bản chất bủn xỉn của một người “quanh năm bán hương trầm”

Xem Thêm : Số bị chia – Số chia – Thương – Giải toán chi tiết toán lớp 2

Thông qua nhân vật mã thư sinh, ta thấy rõ hơn phong cách tả thực nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Du. Nét nào cũng sắc sảo, tạo nên nét thư sinh rất sinh động. Mọi chi tiết nghệ thuật đều rất sống động, và đằng sau đó là sự khinh thường của nhà thơ đối với loại quỷ bạc này! Chân dung nhân vật phản diện trong đoạn mã học sinh có giá trị lên án hiện thực đặc sắc, tố cáo tệ nạn buôn người phi nhân tính và thói đạo đức giả trong xã hội phong kiến ​​suy đồi.

Jiao là một cô gái hiếu thảo với tinh thần hy sinh, sau đó gia đình cô buộc cô phải bán mình để cứu cha và gia đình. Cô ấy coi mình như một “hạt mưa” nhỏ không dễ thấy. Họ đều là “ba cái suối”, dành để báo đáp công cha và thai nhi:

Nghĩ hèn bị phạt, kẻ liều lĩnh một tấc cỏ ba xuân.

Hoa kiều sống trong bi đát dữ dội giữa tình cá nhân và tình gia đình, tình yêu và chữ hiếu, “nỗi đau của tôi còn hơn nỗi giận của gia đình”. Cô ấy đang bị đau. Bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu “nước mắt hoa” rơi xuống, cả người chị như trĩu xuống: “xấu hổ”, … “xấu hổ”, … “da mặt dày”, “buồn như cúc, gầy như an mai”, vì nàng là một người đẹp đau khổ nên những ẩn dụ mà nhà thơ sử dụng đều liên quan đến nhan sắc: hoa đứng, hoa lệ “mặt buồn như cúc, điệu như mai”. Quy tắc của giám khảo là “cân nhắc những ưu và nhược điểm”. Người nước ngoài và tài năng ở nước ngoài đã trở thành hàng hóa để mua bán. Nguyễn Du ca ngợi lòng hiếu thảo, đức hi sinh của Kiều trước những đổi thay của gia đình, đồng cảm với nỗi đau khổ của nàng khi bị “trừ một trừ hai” khi thanh mai trúc mã “cân tài cân đong”… Những câu thơ tràn đầy tinh thần nhân đạo nằm ở chi tiết của nội dung.

“Kiều mã sống” là bài thơ có giá trị phản pháo mạnh mẽ và sâu sắc nhất trong Hải ngoại truyện. Nguyễn Du đã dựng lên một bức tranh hiện thực rõ nét giúp ta thấy rõ bộ mặt tàn ác, ghê tởm của bọn buôn người trong xã hội mà ở đây là mã học trò. Nhà thơ quở trách mặt đối lập của đồng tiền: “Tiền có mà làm gì!”. Cảm thông cho số phận của kiều nữ: bán mình cứu cha. Chỉ những kẻ thương tiếc cái đẹp mới bị chôn vùi. Đây là một giá trị nhân đạo.

Bài thơ thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Du trong việc tả cảnh Mai Kiều và tả nhân vật: tả cảnh trường và cô bé bán diêm chân thực, chi tiết; tả thiên về ước lệ. Rất biến hóa và tài tình. Một ngôn ngữ mang sắc thái biểu cảm ấn tượng.

Tóm lại, cảnh mua thẻ sinh viên ở nước ngoài vừa là hiện thực đáng tố cáo, vừa chứa đầy tinh thần nhân đạo. Thơ là khởi đầu của trường thọ và tang tóc

Ví dụ Bài 3: Phân tích đặc điểm mã học sinh trong bài thơ,

Xem Thêm: Học tiếng Việt lớp 3 luyện từ và câu với tổng hợp kiến thức đầy đủ

“Hoa kiều kí” là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam và là một tác phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật lớn của đại thi hào Nguyễn Du. “Hoa kiều kí” không chỉ là một kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam, mà còn là tác phẩm đưa văn học Việt Nam đến với bạn đọc thế giới. “Kiều Chuyển” là bài thơ viết về Thôi Kiều, nàng là một người “tài sắc vẹn toàn”, tài hoa nhưng càng tài giỏi thì cuộc đời cô gái càng bất hạnh, thăng trầm. Cô vốn là một tiểu thư giàu có, nhưng sự thay đổi trong gia đình đã vô tình đẩy cô đến bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời. Đoạn trích đánh dấu bước chuyển mình của Thôi Kiều từ cuộc sống của một tiểu thư quyền quý sang cuộc sống của một kỹ nữ cay đắng là đoạn trích trong “Chàng trai mua Kiều”.

Đoạn trích “Thúy Mua Kiều” là đoạn trích miêu tả cảnh thuý kiều bán mình cho một chú học trò để lấy tiền cứu cha và cứu gia đình. Qua cuộc giao dịch đó, ta thấy được tâm trạng bi đát của Thôi Kiều, đồng thời cũng vạch trần bản chất xấu xa, giả dối của mã thư sinh, lên án sự chèn ép của các thế lực đồng tiền, chèn ép con người đến tận cùng đau khổ. Mở đầu bài thơ là không gian mua bán, là hình ảnh cô bé bán diêm giới thiệu cho khách lạ mua đồ ở nước ngoài:

“Có chị nào gần xóm không? Đi khách hỏi tên, hỏi tên học trò, hỏi xóm nào quê quán cũng gần”

“Cô nào” ở đây chúng ta có thể hiểu là bà mối, trước yêu cầu của Thôi Kiều, bà mối dẫn một vị khách lạ “cho khách vào để hỏi tên” và ngỏ lời. Vậy thì tên của anh ta là mã học sinh, điều đó cho thấy anh ta là một người có học, mà cụ thể hơn là một Nho sĩ sống trong trường quốc tử giám ở lam thành. Nghe bà mối giới thiệu niềm nở và mến khách, vị giám khảo có vẻ là người đàng hoàng, có lai lịch và là một nhà Nho có học thức, nhưng không khiến người đọc tò mò lâu, ngay cả câu đối cũng không ngoại lệ. Qua bài thơ dưới đây, Nguyễn Du đã cho người đọc hiểu rõ bản chất của con người có vẻ hiền lành, học thức này:

“Tuổi quá, chừng bốn mươi, râu tóc bảnh bao, ăn mặc bảnh bao, trước mặt thầy, rồi vội chạy vào ngân hàng đưa đoàn lên lầu”

Khác với thư sinh có họ tên, lai lịch rõ ràng chứng tỏ anh ta là người đàng hoàng, nhưng miêu tả về ngoại hình lại khiến người ta có cảm giác ngược lại, anh ta là một người đàn ông “khoảng bốn tuổi”. Nghĩa là ngoài bốn mươi tuổi, và “mày râu nhẵn nhụi, ăn diện bảnh bao”. Trong xã hội phong kiến ​​xưa, người ngoài bốn mươi được coi là trung niên, tuổi cao như vậy mà vẫn là nho sĩ của trường Guozijian, điều này khiến người ta cảm thấy khó tin, phẫu thuật thẩm mỹ quá đà. dù đã lớn tuổi nhưng ông vẫn cố giả vờ trẻ trung. Chỉ nhìn vẻ bề ngoài thôi cũng thấy được sự đạo đức giả, đê hèn của nhân vật này.

“Ghế trong phòng kê la liệt dưới sàn, cô càng bực hơn vì hàng hoa”

Quả nhiên, không chỉ có ngoại hình vô liêm sỉ, lố bịch mà ngay cả hành vi cũng thất học, vô học, khác hẳn với mác học sinh mà anh ta giới thiệu, ngồi trên ghế cũng rất thô lỗ. “upon” dành cho những người ở trên, tức là phụ huynh và học sinh lớp 12, nhưng mã học sinh ở đây không biết các quy tắc cơ bản hoặc có thể biết. Nhưng anh ấy vẫn cố tình ngồi, bởi vì anh ấy vẫn cho rằng một mình anh ấy có thể chủ động, bởi vì anh ấy sẽ bỏ tiền ra nước ngoài mua nó. Anh tự cho mình cái quyền được lộng hành, được thể hiện một cách vô học như vậy. Không chỉ có cậu chủ là một tên mã thư sinh mà những người hầu của anh ta rõ ràng cũng là người đi thuê, người đi mượn, bởi nếu là người hầu của anh ta thì đã không có cảnh bát nháo, hỗn láo như vậy. Trước thầy, em vội sau. Trái ngược với những kẻ bắt nạt học hành ngỗ ngược và độc đoán, kiều nữ thật kinh khủng.

“Nỗi đau của mình còn hơn giận ở nhà”, Thúy Kiều lúc này đang mang trong mình gánh nặng của cảm xúc, suy nghĩ và nỗi đau bởi cô biết rằng rồi đây cô sẽ phải nếm trải những đau đớn và khổ sở. Vì hôn nhân được mua bằng tiền mà không có tình yêu này. Lúc này chị không chỉ buồn, ân hận cho bản thân mà còn tích tụ thêm nhiều mối lo cho bố mẹ, anh chị. “Vài dòng hoa”, bước chân của cô giờ đây thật đau đớn, nặng trĩu, bởi trên vai cô không chỉ có những đau khổ mà còn có trách nhiệm nặng nề của một người con, những giọt nước mắt cô rơi khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi, xót xa.

“Rụt rè e lệ hoa thẹn nhìn da dày bứt tóc run tay buồn như cúc, gầy như mai”

Thúy Kiều dường như có những linh cảm về cuộc đời mình trước tương lai đầy bất trắc, và những linh cảm ấy khiến nàng cảm thấy sợ hãi, xấu hổ vì đó sẽ là những ngày đau khổ. “Ngại sương gió”, đây cũng là tâm trạng khó tránh khỏi của con người đứng trước những cơn sóng ấy, một điềm báo chẳng lành. Nỗi buồn, nỗi đau không thể kìm nén được mà đều hiển hiện trên khuôn mặt của kiều nữ “nhậm hoa ngắm da dày”. Trước sự đau buồn và sầu muộn, cô bé bán diêm vẫn rất tận tụy và tràn đầy nhiệt huyết với công việc của mình. Nỗi buồn mong manh của đóa cúc mỏng manh như cánh mai “Buồn như cúc, mong manh như hoa mai”

<3

Đối với câu thơ này, hình ảnh Thúy Kiều thật đáng thương, vì họ coi nàng như một món hàng để trao đổi, bắt nàng trổ tài đánh đàn, làm thơ, khi người muốn mua rất ưng ý , giám khảo và bà mối bắt đầu mặc cả “khách nào ưng thì mới ưng”. Thật xót xa và đau xót biết bao cho một con người tài năng như vậy, tài năng đó không được phô diễn trong những dịp khác, mà dùng để chiều lòng người mua.

“Mua ngọc cho công nhân, xin cho biết căn nhà nát đáng bao nhiêu, nhờ mấy ai dám bền bỉ”

Thế là cuộc thương lượng căng thẳng giữa bà mối và đại lý mã sinh viên bắt đầu. Từ trước đến nay, Mã thư sinh lộ rõ ​​bản chất của một doanh nhân, tuy ban đầu anh ta vẫn cố khoác lên mình bộ dạng trí thức giả tạo “mua ngọc sang xanh”, nhưng càng về sau, bản chất của một doanh nhân cũng lộ rõ ​​bẩm sinh. khẩu vị “trừ một trừ hai” nên đầu lọc mang về cho anh một mức giá đặc biệt từ “nghìn vàng” đến “hơn bốn trăm”.

Đoạn trích “Quy luật mua bán ở nước ngoài” là đoạn trích hé lộ ngày tàn của xã hội “ăn thịt người”, khi con người bị mua bán như hàng hóa trên thị trường. Đoạn trích này cũng cho thấy bản chất xấu xa, dối trá của mã học trò cũng như tâm trạng đau khổ, xót xa của kiều nữ trước bước ngoặt của cuộc đời.

-END-

https://acsantangelo1907.com/phan-tich-nhan-vat-ma-magiam-sinh-trong-doan-tho-ma-giam-sinh-mua-kieu-38993n.aspx truyện kiều là một truyện hay kiệt tác của văn học trung đại Việt Nam, ngoài đoạn trích Mã đệ của Mị Kiều, các em còn có thể tìm hiểu tác phẩm này qua các tài liệu tham khảo sau: Phân tích đoạn trích Hai chị em nhà Thôi Kiều, Phân tích tác phẩm Chunri, Phân tích dưới chân cầu Cuiqiao, phân tích sự trả thù của Cuiqiao.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục