Soạn bài Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du – Ngữ văn 10

Soạn bài Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du – Ngữ văn 10

Soạn bài độc tiểu thanh kí

  • Bài thơ trước hết thể hiện niềm thương cảm của nhà thơ đối với cô gái trẻ, sau đó là sự suy ngẫm đầy cảm thông về cuộc đời và cuộc đời của chính cô. Có thể thấy rằng Ruan Du thực sự là một người từ bi.
    • Một câu thơ không lời
    • Thơ ca, triết lý
    • Biện pháp nghệ thuật
    • Câu 1: Theo em, vì sao Nguyễn Du lại đồng cảm với số phận của người thanh niên?

      Bạn Đang Xem: Soạn bài Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du – Ngữ văn 10

      • Nguyễn Du một lần nữa bày tỏ sự thương cảm cho số phận của tiểu thanh bởi:
        • Nguyễn Du là một người giàu lòng nhân ái. Anh thương những con người khốn khổ, những số phận bất hạnh bị chà đạp trong xã hội cũ. Trong số những người đó, Nguyễn Du có lòng trắc ẩn đặc biệt đối với những người phụ nữ tài năng nhưng bất hạnh, và lòng trắc ẩn này đã trở thành nguồn cảm hứng lớn trong sáng tác của ông (“Nỗi đau của phụ nữ – chữ nghĩa bạc mệnh cũng là một chữ “Ci” thường dùng – truyện Kiều). Đây là lý do chung khiến ông đồng cảm với số phận bất hạnh của nhiều người phụ nữ tài sắc vẹn toàn trong tác phẩm của mình.
        • Ngoài ra, còn có những nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng cụ thể của cô gái trẻ. Thông thường, những người “cùng hội cùng thuyền” bao giờ cũng dễ cảm thông cho nhau ở mức độ sâu sắc và đau đớn. Nguyễn Du và Tiểu Thanh là những con người như vậy:
          • Nguyễn Du là một người tài hoa, giỏi thơ văn nhưng lại có một cuộc đời lận đận. Có thể nói, cuộc sống của anh thật bấp bênh…
          • Cô cũng là một người tài sắc vẹn toàn, giỏi cả văn lẫn nhạc, nhưng số phận cô cũng bất hạnh, cô chết oan năm 18 tuổi, cô qua đời nhưng thơ cô vẫn còn cháy bỏng. → Đây là lý do chính và quan trọng nhất khiến Ruan Dou đồng cảm với số phận của cô. Bài thơ “Phong Thủy Bất Công Tự Quyết” ghi rõ: Nguyễn Du thương cảm cho hoàn cảnh bất hạnh của tiểu thư, vì chàng cũng có hoàn cảnh tương tự (“Ta coi mình cùng phe với phe khác, ta trách sự bất công vì lịch sự”; thơ dịch: khách tự xưng là phú quý. Đó là sự đồng cảm tự nhiên, sâu sắc của những người “cùng hội cùng thuyền”)
          • Câu 2 Câu “Trời không tiếc cũng chẳng hỏi” nghĩa là gì? Sân (ghét) ở đây là gì? Tại sao tác giả nghĩ rằng không thể hỏi Chúa?

            • Câu:
              • “Vàng xưa tiếc chẳng hỏi ra” có nghĩa là:
                • Ta có thể hiểu “vàng xưa tiếc” là dịch thơ theo cụm từ Nghĩa là: “Vàng xưa ghét vật” (nghĩa là: hận xưa). Qua câu văn đó ta thấy được tình cảm của tác giả về mối tình oan trái của tiểu thanh rất bất bình trước số phận đối xử bất công với người tài hoa. Điều nhà thơ muốn nói là sự tàn ác của tạo hóa luôn đối xử bất công với người hiền tài, đó là câu hỏi mà nhiều nho sĩ đã day dứt, thắc mắc mà chưa tìm được lời giải đáp. Nỗi đau khổ của những tài năng và bất hạnh là nỗi buồn chung và mối hận chung của các học giả ở mọi thời đại.
                • Tác giả cho rằng “khó hỏi trời” – nguyên văn là “vấn trời”, bởi theo cách nhìn của nhà thơ, đây là nỗi khổ ải của một người tài hoa trong cuộc đời, bởi người đó đã nhân tài như vậy, lại bị ông trời “Ghen tị”, cho nên con người dù có làm gì cũng khó thay đổi được số mệnh đó. Hệ tư tưởng này cho thấy sự bất lực của người xưa trước những bất công xã hội, bất lực trước định kiến ​​của xã hội đối với phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ tài sắc vẹn toàn.
                • Ruan Du đã viết trong bài thơ: “Cổ kim hận đạo”, có nghĩa là mối hận từ xưa đến nay không thể hóa giải. Nguyễn Du gợi lên nỗi đau muôn thuở trước số phận, sự bất lực trước số phận nghiệt ngã, nhẫn tâm.
                • Tác giả cho rằng không thể cầu trời, vì:
                  • Từ xa xưa, có một hủ tục vô cùng tàn ác, đó là ông trời luôn bất công với người hiền tài. Nỗi oan ấy không chỉ đổ lên đầu những người tài nữ mà còn thu hút sự căm ghét của nhiều người (Nguyễn ẩn dật, Đỗ Phủ, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du…). Mối hận ấy trăm năm không thay đổi. Nỗi đau ấy bấy lâu nay dày vò con người đã sản sinh ra một nỗi oan ức dường như không có lời giải nào hay hơn: “Trời cao mây yên, môi đỏ quen ghen” khiến lòng người bâng khuâng, bâng khuâng. cuộc đời của họ. Ở đời, dù tài giỏi đến đâu vẫn phải chấp nhận sự mong manh, bất hạnh của số phận. Chính vì không thể trả lời, bất công và bất công mà con người trông chờ vào quyền năng tối cao của trời để tìm câu trả lời, nhưng thực ra họ không thể hỏi trời, rơi vào buồn bã, lang thang khắp nơi và không biết phải trả lời như thế nào. và biến nỗi bất bình ấy thành: “nỗi tiếc muôn đời của thiên lý”.
                  • Câu 3: Nguyễn Du ngậm ngùi, thương cảm trước cái chết bất hạnh của người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Điều này nói lên điều gì về tấm lòng của nhà thơ?

                    • Nguyễn Du xót thương, cảm thông cho người phụ nữ tài hoa nhưng bất hạnh.
                    • Lâu lắm rồi, câu chuyện về một nữ thi sĩ tài hoa nhưng đoản mệnh xảy ra ở Trung Quốc từ thời nhà Minh (khoảng tk xvi), nhà thơ vẫn xúc động viết nên bài thơ. → Nguyễn Du có tâm hồn nhạy cảm và đồng cảm với con người, có tinh thần nhân văn sâu sắc đối với số phận của con người. Lòng trắc ẩn của nguyễn du vượt qua mọi ranh giới thời gian và không gian, không chỉ đối với người phụ nữ, mà đối với những người có tài mà không được trọng dụng, có tài mà bạc mệnh, nhiều người ngang bằng. bên trái.
                    • Xem Thêm : Khối xã hội gồm những môn nào? Ngành nào? Các ngành thuộc khối xã hội

                      ⇒ Nguyễn Du mang trong mình tình cảm nhân đạo sâu sắc.

                      Phần 4: Phân tích mỗi bài thơ (chủ đề, sự kiện, luận điểm, kết luận) đóng góp như thế nào vào chủ đề chung.

                      • Thơ thất ngôn bát cú (thất ngôn bát cú) là một chỉnh thể nghệ thuật cô đọng gồm 4 khổ thơ (4 phần) là chính, thừa, chuyển, hợp (còn gọi là chủ đề). , luận cứ, kết luận).Thể thơ tám chữ, bảy chữ, mỗi đoạn gồm 2 câu (một cặp câu)
                      • Mỗi khổ thơ giữ vai trò cấu trúc toàn bài thơ, có mối liên hệ logic vốn có để bộc lộ chủ đề của tác phẩm.
                      • Trong phần đọc hiểu, vai trò của từng phần như sau:
                        • Phần mở bài (Đoạn 1, 2): Mở bài: Nêu hoàn cảnh gợi cảm hứng và hoàn cảnh sáng tác.
                        • Sự thật (đoạn 3 và 4): Nói về đặc sắc của thơ (cô tuy đã mất nhưng tài vẫn còn).
                        • Đề bài (câu 5, 6): Coi như oán nàng mà cảm thông với đồng loại.
                        • kết (câu 7, 8): Nhìn người thương nhớ không biết số phận mình sẽ ra sao
                        • Bốn câu thơ này là cảm hứng chung của nhà thơ: ngậm ngùi, thương cảm cho số phận bất hạnh của người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, từ đó suy ngẫm về số phận của chính mình. Trình tự và diễn biến hợp lý của bốn phần bộc lộ sâu sắc và xuyên suốt chủ đề tác phẩm.
                        • Câu 1: Đọc các câu thơ sau trong Truyện Kiều (từ câu 107 đến câu 110) và lưu ý những điểm tương đồng với bài đọc truyện Kiều

                          Đó: mặt đỏ trước đây,

                          Xem Thêm : Từ chỉ đặc điểm là gì? Ví dụ về từ chỉ đặc điểm

                          Không ai chịu bỏ đi vận đen.

                          Tôi đau lòng khi nghĩ về điều đó

                          Làm sao biết người nằm đó?

                          Câu trả lời được đề xuất

                          • Những câu thơ trên là đánh giá của Cuiqiao về nhân vật Dantian.
                            • Trong truyện Kiều có rất nhiều đoạn thoại bắt đầu bằng từ “ấy”, như đoạn thơ trên. Trong trường hợp này cũng có thể hiểu là lời của tác giả (Nguyễn Du).
                            • Từ nội dung bài thơ, có thể thấy chủ đề sáng tác của Nguyễn Du là hình ảnh những người tài hoa bạc mệnh.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục