Đặc điểm sinh học của cá kèo

Đặc điểm sinh học của cá kèo

Cá kèo sống ở đâu

Giới thiệu

Bạn Đang Xem: Đặc điểm sinh học của cá kèo

Cá bống hay còn gọi là cá kèo là một trong những loài thủy sản đặc trưng của vùng ĐBSCL, phân bố nhiều ở các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Trà Vinh và Basinacht. Cá bống được khai thác rộng rãi ở vùng ven biển và cửa sông. Hiện nay cá kèo đang trở thành đối tượng nuôi mang lại lợi nhuận kinh tế cao, thịt thơm ngon được người dân ưa chuộng, có thể ăn tươi hoặc phơi khô.

Ở ĐBSCL hiện có 2 loài cá bống là cá bống lớn và cá bống nhỏ, cá bống nhỏ cho sản lượng lớn và giá trị kinh tế cao hơn cá bống lớn.

Trước đây, do nguồn cá tự nhiên phong phú, sản lượng lớn nên sản lượng cá bống tượng ở các vùng nuôi tự nhiên cao, thậm chí một số nông dân đã biết nuôi cá bống tượng bằng con giống tự nhiên. Cá bống được nuôi tự nhiên thông qua các ao, đầm, ngoài ra còn có cá bống con tự nhiên vào theo thủy triều. Vùng nuôi cá tự nhiên là vùng ven biển, bãi triều, đầm phá nước mặn.

Nghề nuôi cá bớp ban đầu phát triển ở một số nơi như Bạc Liêu, Trà Vinh, Sóc Trăng rồi lan ra nhiều nơi khác ở ĐBSCL. Cá dễ nuôi, có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên các loại mặt nước. Hiện nay, các ao nuôi tôm, vựa muối ở ĐBSCL còn được sử dụng để nuôi cá bống tượng, góp phần làm phong phú đối tượng nuôi và mô hình nuôi, khai thác hiệu quả tiềm năng của nông dân trong vùng, mở ra hướng nuôi trồng thủy sản mới ở Thái Lan. Đồng bằng sông Cửu Long.

Cá bống mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho nhiều nông dân trong vùng, nhất là khi nghề nuôi tôm sú ngày càng gặp nhiều rủi ro. Diện tích nuôi cá kèo tăng nhanh, tại Shuozhuang diện tích nuôi từng đạt hơn 400 ha. Có nhiều mô hình nuôi hiệu quả như mô hình nuôi cá kèo bán thâm canh trong ao nuôi tôm sú. Ngoài ra, một số nơi ở Bạc Liêu đã phát triển mô hình luân canh quảng canh dưới chân các vựa muối. Cá bống tượng còn được nuôi kết hợp với tôm cua, cá bống tượng được nuôi sau khi thu hoạch tôm thâm canh và bán thâm canh, ví dụ ở ba tri, bình đài, thanh phú (Bến Tre), gò công (tiền giang), ven biển. (trà vinh).

Ý kiến ​​chung của nhiều người về mô hình nuôi cá bống tượng là mô hình nuôi tương đối bền vững, tỷ lệ rủi ro thấp, đặc biệt chi phí đầu tư không cao như nuôi tôm. Ngoài ra, nhiều hộ nuôi cá bống tượng cũng cho rằng, chi phí nuôi cá bống tượng thấp, nguồn gốc xuất xứ sẵn có tại địa phương, ít dịch bệnh, dễ nuôi, nhàn hạ và có thị trường tiêu thụ ổn định. .

Với sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi cá bống tượng thương phẩm, do tình trạng khai thác, khai thác tràn lan ở nhiều nơi không đền bù cho tài nguyên thiên nhiên, nguồn giống tự nhiên ngày càng ít đi, hầu hết các nơi không có kế hoạch bảo vệ nguồn lợi, nên năng suất giống tự nhiên bị giảm sút nghiêm trọng, không đủ cung cấp cho canh tác. Nguy cơ cạn kiệt nguồn giống tự nhiên ngày càng tăng.

Việc nghiên cứu và sản xuất giống cá bống tượng giống nhân tạo đang là một chủ đề cấp thiết và một số cơ quan nghiên cứu đang quan tâm đến lĩnh vực này. Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về sự trưởng thành của cá trong tự nhiên vẫn chưa toàn diện và đầy đủ. Một số kết quả bước đầu đã đạt được trong nghiên cứu sinh sản nhân tạo như nuôi nhốt cá bố mẹ, cá cái cố đạt giai đoạn 4. Một số thành công đã đạt được trong việc kích thích cá cái đẻ trứng, nhưng sự thành thục và trưởng thành của cá đực trong điều kiện nhân tạo vẫn là một thách thức lớn trong sản xuất cá bống tượng giống. Cho đến nay, nhân giống nhân tạo đã không có kết quả. Nguồn giống nuôi cá kèo vẫn phụ thuộc vào giống tự nhiên

Xem Thêm: Dãy Himalaya ở đâu ? – Trọn thông tin về dãy núi hùng vĩ nhất châu Á

Đặc điểm sinh học của gấu túi

Xem Thêm : Theo dòng lịch sử: Các kỳ SEA Games từ 9 tới 21

Hình thái và phân loại

Cá kèo là một loài cá bống. Cá bống có phân bố rất rộng, từ cận nhiệt đới đến nhiệt đới, từ bờ biển Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương, Tahiti và Biển Đông. Ở Nam và Đông Nam Á, có hơn 50 loài cá bống thuộc 29 chi, họ cá bống apocrypteidae là một trong những họ tôm phân bố rộng ở các vùng biển từ Bến Tre, Bạc Liêu, Shuo Yue đến nam California. mau, tập trung ở cửa sông, cửa biển và bãi triều. Sản lượng hàng năm của họ là khá cao. Cá bống đang được phát triển và nuôi thương phẩm ở ĐBSCL là những loài cá bống nhỏ thuộc kỷ Creta, chẳng hạn như bốu:

Bộ sưu tập các buổi biểu diễn

Họ nhà cá

Giống như mật mã giả

Pseudapocryptes elongatus cuvier 1816

Cá bống có thân hình trụ dài được bao phủ bởi lớp vảy tròn rất mịn. Cơ thể có màu vàng xám. Đầu hơi nhọn, mõm tù. Mắt nhỏ và tròn, khe mang hẹp, màng mang phát triển tốt, lưỡi cắt ngang. Cá có hai vây lưng độc lập, vây đuôi dài và nhọn, có nhiều hàng đốm đen, các vây còn lại có màu trắng nhạt. Cá có kích thước nhỏ, hiếm khi dài quá 25 cm, trọng lượng trung bình 30-40 gam.

Xem Thêm: Kiến thức cơ bản về ADN – NOVAGEN

Hình 1. Cá kèo

Lối sống

Cá bống nhỏ pseudodapocryptes elongatus phân bố rộng rãi ở khu vực ĐBSCL từ Ấn Độ và Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan đến Malaysia và Việt Nam.

Cá bống nhỏ sống chủ yếu ở vùng nước lợ và mặn ở các bãi bồi, rừng ngập mặn và cửa sông. Tuy nhiên, chúng cũng sống ở nước ngọt. Cá thường đào hang ở các bãi bồi và kiếm ăn ở các bãi này. Cá có khả năng thích nghi cao với điều kiện môi trường khắc nghiệt. Theo một số tác giả loài cá này sống được ở 3 môi trường: nước mặn, nước lợ và nước ngọt, đồng thời chịu được môi trường có độ mặn cao. Các loài cá hoang dã di cư có thể chịu được sự thay đổi độ mặn đột ngột từ 30-35%o (phần nghìn) đến 10%o hoặc thấp hơn, đồng thời chúng cũng có thể sống được ở những vùng đất nhiễm phèn, độ pH thấp. Do cá có nhiều nếp mang và có thể mở rộng nên cá có thể hít thở không khí trực tiếp, sống được trong điều kiện môi trường có lượng oxy hòa tan thấp, thậm chí sống lâu trong hang bùn. Cá bống ưa nơi có triều cường và triều thấp nên chịu được nhiệt độ môi trường dao động lớn, nhiệt độ thích hợp là 23-28°C.

Xem Thêm : Shop hoa sen giá rẻ tại TPHCM

Cá có thể sống trên cạn trong thời gian dài, vì vậy những người bán cá bống ở chợ có thể trữ cá hàng tuần liền trong các vật chứa nhỏ ít nước, chẳng hạn như chum và xô

Ăn cá

Yêu tinh là loài cá ăn sinh vật phù du, là thực vật sống và mùn hữu cơ bám vào đáy các vùng nước. Do môi trường dưới nước nơi cá bống sinh sống là trầm tích nên khi điều tra tại thực địa cá bống cho thấy trong đường tiêu hóa của cá có tảo, chủ yếu là tảo và tảo lam, mùn bã hữu cơ chiếm tỷ lệ cao. Về cấu tạo bộ máy tiêu hóa, chiều dài ruột gấp 3-3,5 lần chiều dài cơ thể chứng tỏ đây là loài cá ăn tạp, ưa thực vật. Trong nuôi cá bể và nuôi ao thương phẩm, ngoài thức ăn tự nhiên, cá sử dụng tốt thức ăn công nghiệp.

Ao nuôi tôm sú, thả cá bống tượng sau khi hết vụ nuôi tôm, cá tận dụng tốt mùn bã hữu cơ còn lại trong ao, chắc tháng đầu tiên thả cá giống thì không cần nhân tạo. thức ăn cho cá ăn.

Xem Thêm: Thông tin Bạc Liêu – Các tỉnh miền tây

Tăng trưởng của cá

Cá mới nở có túi noãn hoàng vẫn sống xa bờ đến 8 km tính từ cửa biển. Cá giống năm tuần tuổi có thể đạt 1,5 cm. Khi đạt chiều dài 1,6 – 1,9 cm, cá di cư ra cửa biển. Cá con trước cá trưởng thành, chiều dài thân 2-10,7 cm, sống ở vùng triều, nơi có nhiều rừng ngập mặn và rừng cá, mực nước tương đối nông, mực nước 20-40 cm, đáy phẳng đục.

Theo một số tác giả đã nghiên cứu về cá bống tượng, loài cá này có quá trình sinh trưởng liên tục trong suốt vòng đời, trừ khi cá gặp điều kiện bất lợi. Quá trình sinh trưởng tự nhiên có thể dừng lại khi cá đã trưởng thành và các chất dinh dưỡng đã được sử dụng chủ yếu cho quá trình sinh sản. Khi cá đạt mức tăng trưởng tối đa thì không tăng trưởng nữa, chỉ giữ lại kích thước và trọng lượng.

Các phát hiện cũng cho thấy quần thể cá này được bổ sung hai lần một năm, với khoảng thời gian khoảng 6 tháng. Con đực lớn nhanh hơn con cái. Cá có thể tăng gấp đôi chiều dài cơ thể sau 1 năm.

Thành thục và sinh sản

Khi chiều dài cơ thể đạt trên 20 cm là lúc cá trưởng thành, lúc này đã di cư vào sống ở sông, rạch, ao hồ nội đồng. Khi thành thục sinh dục, cá bơi trở lại biển để đẻ trứng. Cá bống tượng có tuyến sinh dục rất nhỏ. Các khảo sát về cá đánh bắt tự nhiên hầu như chỉ tìm thấy trứng cá kèo ở giai đoạn thứ ba. Buồng trứng của cá tuy không lớn nhưng số lượng trứng khá nhiều. Con cái có trọng lượng trung bình 20 gram có 10.000-16.000 trứng. Cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy nơi đẻ trứng của cá, hoặc cá trưởng thành có buồng trứng đã phát triển đến giai đoạn iv-v (cá sẵn sàng đẻ trứng). Cá con xuất hiện ở các cửa sông vào mùa mưa tập trung chủ yếu ở tỉnh Bạc Liêu và các cửa sông gần Mặt Trăng.

Trong tự nhiên, vùng bãi triều và nơi cá sinh sống không thấy tuyến sinh dục ở giai đoạn thành thục khi đẻ trứng, chỉ có cá thể tuyến sinh dục phát triển đến giai đoạn 3, trứng rất nhỏ. Tuyến sinh dục đạt đến giai đoạn III từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau và sẽ không còn thấy cá có giai đoạn trưởng thành tuyến sinh dục cao hơn nữa. Theo nhiều tác giả, ở giai đoạn này cá thành thục sinh dục có thể đã di chuyển ra vùng biển sâu có điều kiện sinh thái thích hợp để đẻ trứng.

Qua khảo sát tại các vùng nước tự nhiên nơi cá bống phân bố, tôm cái có rất ít hoặc không sinh sản vào tháng 5-6. Có thể cá đẻ vào tháng 3-3 nên từ tháng 4-5 cá bột xuất hiện nhiều ngoài tự nhiên.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giải Đáp Cuộc Sống