Suy nghĩ về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Nhìn lại số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​từ nhân vật Võ Nương và Thúy Kiều—— Trong bài viết này, hoatieu xin chia sẻ với các bạn đôi nét về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​với nghĩ về chế độ phong kiến ​​hay Bài văn mẫu về số phận người phụ nữ trong xã hội thượng lưu giúp các em học sinh củng cố kiến ​​thức về ngữ văn.

  • Suy nghĩ: Tri thức có tạo nên giá trị con người không?
  • Trong các tác phẩm văn học đã học trong sách giáo khoa, hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​có thể nói là một hình ảnh giàu sức gợi và gợi cảm. Có thể thấy, người phụ nữ trong các tác phẩm thơ cổ mang vẻ đẹp nhân cách, phẩm chất nhưng lại chịu nhiều bất hạnh vì sự lạc hậu của lễ giáo phong kiến. Sau đây Hoa Thiết chia sẻ tổng hợp bài văn mẫu cảm nghĩ về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, mời các bạn tham khảo.

    Bạn đang xem: Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

    thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

    Bạn được mời tham gia nhóm của mình Bạn đã tham gia lớp học chưa? Cập nhật kiến ​​thức mới hữu ích cùng hoatieu.

    1. Nêu thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến

    I. Lễ khai trương

    Truyện nam nữ và “Hải ngoại truyện” của Nguyễn Du là hai tác phẩm tương đối thành công viết về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Qua hai tác phẩm uyên bác: “Nam Nữ Truyện” và “Hoa Kiều Truyện” của Nguyễn Du, đã cho thấy rõ những nỗi khổ tâm mà người phụ nữ phải chịu đựng.

    Hai. Nội dung bài đăng

    1.Vai Vu Nong trong “Nam Nữ Truyện” của Nguyễn Du

    Gái nhảy là nạn nhân của chế độ phong kiến ​​đầy bất công với phụ nữ.

    Cuộc hôn nhân không bình đẳng của Võ Nương (Trương Thịnh xin mẹ trăm lượng vàng để cưới Võ Nương) – khoảng cách giàu nghèo khiến Võ Nương sống trong mặc cảm “tôi không xứng” và ” cho người nghèo”, “được nhà giàu nuôi” cũng là thái độ sống, đối xử thô bạo, gia trưởng với vợ.

    Chỉ vì tin lời chàng trai ngây thơ mà nàng đã hống hách, chửi thề, xua đuổi chính vợ mình không cho thanh minh nên công chúa buộc phải tìm đến cái chết oan uổng để thanh minh cho mình. .

    Cái chết oan uổng của công chúa cũng không làm lương tâm nàng day dứt.

    Ông không hề bị xã hội lên án. Biết rằng Fu Niang đã sai, Zhang Sheng bỏ qua cho anh ta vì sự việc đã đi đến hồi kết. Người đàn ông đã giết công chúa nghĩ rằng anh ta hoàn toàn vô tội.

    2. nhân vật thuý kiều trong “truyện kiều” của nguyễn du

    Kiều nữ là nạn nhân của tệ xã hội đen.

    Vì đồng tiền, những kẻ phá luật đã gây ra cảnh ly tán, ly tán gia đình hải ngoại:

    Thật là một ngày kỳ lạ

    Điên vì tiền

    Để có tiền cứu cha và em trai khỏi bị đánh đập, Joe đã phải bán thân cho cậu học sinh có biệt danh buôn người, và trở thành món hàng được hắn cân đo đong đếm…

    Cũng vì đồng tiền, số học trò mà sư cô đã đẩy cô đến chốn lầu xanh, để cô lang thang mười lăm năm đau đớn, cay đắng và phải “hai lần sạch, lần y”.

    3. Điểm tương đồng giữa hai vai trò

    Họ đều là những người đẹp, nhưng họ không hạnh phúc.

    Là nạn nhân của xã hội phong kiến, còn nhiều định kiến ​​hẹp hòi, bất công đối với phụ nữ.

    <3

    4. Mở rộng câu hỏi

    Những người phụ nữ trong hai tác phẩm “Chuyện nam xương nữ” và “Chuyện người lạ” hội tụ những vẻ đẹp đáng quý nhất, đồng thời cũng chứa đầy những khía cạnh đau đớn, tủi nhục nhất của bản chất con người. Họ là đại diện tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ.

    Viết về phụ nữ, các nhà văn và nhà thơ bảo vệ họ trên quan điểm nhân văn đồng thời đưa ra những bản cáo trạng gay gắt chống lại những thế lực vật chất đã gây ra nỗi đau cho họ. Điều này có liên quan đến cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội hiện đại.

    Ba. Kết thúc

    Người đọc vô cùng thấu hiểu và đồng cảm với những người phụ nữ bất hạnh, cùng phấn đấu vì hạnh phúc của phụ nữ.

    2. Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến-mẫu 1

    Nhà thơ huyền đã từng viết:

    Chị em ta đổ nắng vàng cho đời, ta đổ nắng vàng cho thơ

    Có thể nói, ngày nay, địa vị của người phụ nữ đã được đề cao và tôn trọng. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xuất hiện ở nhiều nơi trong đời sống và đã để lại nhiều hình ảnh sống động trong thơ ca hiện đại. Nhưng tiếc thay, trong xã hội cũ, người phụ nữ phải chịu một số phận éo le và đáng thương:

    Phụ nữ nói rằng xui xẻo là chuyện bình thường và đau đớn

    Dòng chữ trên đã nhiều lần xuất hiện trong tác phẩm của Đại thi hào Nguyễn Du, như một điệp khúc rùng rợn. Tuy nhiên, phụ nữ miền núi phàn nàn “thân em là thân con bọ ngựa, Mạt chược!”, trong khi thân hình phụ nữ miền xuôi như con ong và con kiến. Đây không phải là nói ngoa mà nó rất phổ biến trong văn học Việt Nam, đặc biệt là hai tác phẩm “Hoa kiều kí” và “Truyện nam nữ” của Nguyễn Du. . .

    Trong xã hội phong kiến ​​suy tàn lúc bấy giờ, số phận người phụ nữ thật nhỏ bé, mảnh mai. Trong các tác phẩm văn học thời bấy giờ cũng có rất nhiều đề cập đến cuộc sống của phụ nữ và có lẽ tiêu biểu nhất là vai diễn Phù Nương trong “Chuyện nam nữ”.

    Có câu “Đàn bà không màng tài sắc”, nhưng công lao của cô gái múa không những không được biết đến mà bản thân cô còn phải chịu thử thách nghiệt ngã của số phận. Một mình chị phải âm thầm chăm sóc các con, nỗi đau vật chất đè nặng lên vai chị phải vượt qua. Cứ tưởng chiến tranh đã qua, phu quân trở về, gia đình đoàn tụ, không ngờ sóng gió ập đến, bóng ghen tuông khiến đấng sinh thành mê muội mù quáng. Chỉ cần nghe một đứa trẻ nói những điều ngây thơ, anh ấy nghĩ vợ mình hư hỏng. Thay vì hỏi cung, Trương Sinh lại đánh đập nàng một cách thô bạo rồi đuổi nàng đi mà không cho nàng thanh minh. Bị dồn đến bước đường cùng, Dancer phải tìm đến cái chết để kết liễu cuộc đời mình.

    Bên cạnh vu nương, một hình tượng nổi bật khác là nhân vật thuý kiều của nguyễn du. Rất ít phụ nữ trong giới văn học có thể sống trường thọ như Vương Thúy Kiều trong “Truyền thuyết về Hoa kiều”. Ngay từ đầu tác phẩm, câu nói “Trời xanh thói đời ghen tuông” của tác giả đã báo trước sự kiện đau lòng này. Thúy Kiều xinh đẹp thanh tú, tài giỏi và hiếu thảo, lẽ ra cô phải có một cuộc sống hạnh phúc và bình yên, nhưng do gia cảnh thay đổi, cô đã bị bán đi với giá hơn 400 lượng vàng. cô ấy chết trên thiên đường, Yanghe tự sát. Dẫu biết trước cái kết của câu chuyện và được đoàn tụ với gia đình, nhưng niềm đam mê phiêu bạt cả đời đã chôn vùi cả một trang sử tài hoa của cô. Vô số lần chia phôi vĩnh viễn, cuộc sống dưới hầm và nỗi nhục thân bị xé nát của Cuiqiao đều khiến người đọc phải khóc lóc thảm thiết. Số phận éo le của cô gái khiến thế hệ mai sau phải than thở “may thay, nước mắt người thân chảy xuôi”.

    Xem thêm: Clo không phản ứng với chất nào sau đây?

    Có lẽ bi kịch của Võ Nương và Thôi Kiều không phải là trường hợp cá biệt, mà là số phận của rất nhiều phụ nữ, kết quả của nhiều nguyên nhân do chế độ phong kiến ​​gây ra, và số phận của họ thật nghiệt ngã. Từ những mảnh đời bất hạnh ấy, nguyễn du và nguyễn du đã góp phần khái quát hóa kiếp sống đau khổ chung của người phụ nữ, điều đó còn được thể hiện trong ca dao từ ngàn xưa:

    Thân em như giọt mưa bên giếng, hạt giống trên ruộng.

    Đó vừa là tiếng kêu chia buồn, vừa là lời tố cáo, vạch trần hiện thực đen tối của xã hội, sự lạm quyền, lạm quyền. Đồng thời cũng gián tiếp lên án những thế lực phong kiến ​​đã đẩy nhân dân vào cảnh đau thương. Dưới chế độ phụ hệ: “ưa con trai”, quyền lợi hợp pháp của phụ nữ bị tước đoạt, nhân phẩm của họ bị che đậy. Họ bị ràng buộc bởi những lễ giáo phong kiến ​​khắt khe như “tam tòng” hay “nữ nhi ngoại tộc” và những quan niệm lạc hậu khác. Phận đàn bà là bị lệ thuộc hoàn toàn, bị chà đạp, thậm chí bị coi như món hàng. Ngày nay, tàn dư của chế độ cũ vẫn đang sụp đổ và bạo lực đối với phụ nữ vẫn còn phổ biến. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn.

    Chính vì thế mà người xưa vẫn nói “hồng nhan bạc phận”, nhưng những lễ giáo hà khắc, xưa cũ cũng đã là dĩ vãng. Phụ nữ ngày nay được hưởng quyền bình đẳng, đặc biệt là quyền tự do kết hôn và quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Những hành vi xâm phạm nhân phẩm phụ nữ sẽ bị nghiêm trị. Dù được viết cách đây gần hai thế kỷ nhưng những tác phẩm thấm thía ấy vẫn gây xúc động và xót xa trong lòng người đọc. Với vai Võ Nương, Nguyễn Du đã tạo nên một hình tượng nữ chính vô cùng xinh đẹp và ý nghĩa. Bởi trong tác phẩm, cũng như bao người phụ nữ khác, Phù Nương chỉ là một người phụ nữ bình thường, xuất thân khó khăn, nhưng nàng đã trở thành hình tượng trung tâm, thẩm mỹ và lý tưởng. Nhưng riêng “Truyện Kiều” đã mang một giá trị nhân đạo bộc lộ rõ ​​nét – đây là kết tinh của khí phách và tinh thần của dân tộc Việt Nam. Chính kiểu cảm hứng này đã cô đọng những giá trị nổi bật nhất của “Truyện Hoa kiều”. Không phải bởi vì Nguyễn Du tài năng, mà là bởi vì Nguyễn Du yêu người.

    Viết Nam nữ truyện và Kiều truyện, Nguyễn Du và Nguyễn Du đã đóng góp tiếng nói xúc động cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ.

    3. Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến-mẫu 2

    Trong văn học trung đại, nhiều nhà văn đã viết về người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Chẳng hạn, tác phẩm Nam Xương Nữ Truyện của Nguyễn Du khắc họa nhân vật Ngô Nông, truyện Nguyễn Du và Thôi Kiều khắc họa hình ảnh phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. đẹp nhưng nhiều nỗi đau

    vu nương là một phụ nữ xuất thân từ một gia đình bình thường, có “tâm tốt”. Cô xuất thân là con một gia đình giàu có ở quê, “cõng trăm lạng vàng” cưới cô. Nhưng chính sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình, đồng tiền lại phát huy “quyền năng” của mình khiến công chúa luôn phải sống trong sự mặc cảm “giàu nghèo”. Biết chồng đa nghi, chị luôn giữ gìn kỷ luật để vợ chồng không xảy ra bất hòa. Không lâu sau cuộc hội ngộ, Zhang Sheng bị bắt đi lính. Tiễn chồng ra trận, nàng nốc cạn chén rượu thốt lên những lời yêu thương thủy chung: “Không dám mong đeo ấn Hầu, áo gấm về quê, chỉ xin hai chữ khi về nhà, mình bình yên là đủ rồi…”. Mong ước lớn nhất của cô không phải là danh lợi mà là cuộc sống gia đình hòa thuận, hạnh phúc. Những ngày chồng đi vắng, một mình chị chèo lái con thuyền gia đình. Cũng như cha mẹ ruột, cô chăm sóc mẹ chồng ốm đau, thuốc thang. Tấm lòng hiếu thảo của nàng khiến nàng vô cùng cảm động, trước khi chết có nói: “Sau này trời làm phúc, phù hộ cho người yêu, con cháu đông đúc, người xanh không phụ ta, chỉ vì ta không phản bội”. mẹ tôi.” Không chỉ vậy, cô ấy còn phải chăm sóc em bé sơ sinh. Vì thương con và lo lắng đứa trẻ sẽ không có hình bóng của cha, đồng thời cũng khiến con ký thác nỗi nhớ nhung mong ngóng chồng, cô vũ công bày ra trò chơi bóng đè. Vào ban đêm, cô ấy chỉ vào cái bóng của chính mình trên tường và nói với đứa con trai đang nhổ nước bọt rằng đó là cha của nó. Xã hội phong kiến ​​đang suy tàn luôn làm cho người ta cảm thấy bất an: một trò đùa, một vật vô tri, vô giác theo khắp nơi, và nó còn làm tan vỡ hạnh phúc gia đình. Sau khi thực hiện nghĩa vụ quân sự hơn năm sau, anh trở về quê hương. Anh không nghĩ nhiều về những gì đứa trẻ nói, mặc dù đó là lời nói của một đứa trẻ ngây thơ và quá mơ hồ. Trượng sinh mắng vợ một trận rồi đuổi vợ đi không thèm giải thích. Cô ấy thực sự thất vọng. Gia đình hạnh phúc tan vỡ. Tình yêu và niềm tin đã không còn nữa. Vô cùng tuyệt vọng và buồn chán, cô đã biện minh cho cái chết của mình. Niềm tin vào cuộc sống đã mất khiến công chúa dù có điều kiện cũng không thể trở lại trần gian.

    Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​cũng giống như thân phận vũ nữ. Số phận của họ đã bị phong ấn. Sinh ra trong đời đàn bà, không phân biệt giàu nghèo, không ngoại lệ, chữ “phận” đã trở thành “ngạn ngữ” – như Nguyễn Du đã viết trong “Hải ngoại ký”:

    Đàn bà khổ, chữ hên cũng là chữ thường.

    Còn có Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” – tiếng kêu đau đớn, xót xa, thống thiết của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Số phận của cô ấy thất thường hơn nhiều so với công chúa. Lần này, ở chế độ tiền bẩn bạc đen. Mười lăm năm lưu lạc đau thương tạo nên một hải ngoại tươi đẹp. Những kẻ ngoài vòng pháp luật đã gây ra sự chia cắt, ly tán của các gia đình kiều bào chỉ vì đồng tiền. Để có tiền cứu cha và em trai, cô quyết định bán mình cho một tên thanh mai trúc mã – một kẻ buôn người độc ác. Và kiều bỗng trở thành món hàng được cân đo đong đếm, ký gửi, thương lượng… và kiều từ tay một cậu học trò đê hèn rơi vào tay một danh nhân, một chủ quán bar nổi tiếng. Cô là một cô gái xinh đẹp và tài năng, lớn lên trong một gia đình trung lưu, chính trực, cao quý và có dòng máu cao quý, điều đó khiến Cuijiao không thể chấp nhận trở thành gái lầu xanh. Cô đau đớn chịu đựng những trận đòn của vợ, và cô không thể tìm đến cái chết vì bị vợ bắt gặp. Tiểu thư muốn thuê sở khanh nói dối và ép cô trở thành gái lầu xanh thứ thiệt. Vì vậy, cô chấp nhận một cuộc sống ô nhục một cách đau đớn và đau đớn. Thay vào đó nó đau! Cô từ một thiếu nữ trong sáng, đức hạnh biến thành món đồ chơi mua vui cho khách chơi bời. Số phận của Kiều đối lập với cô không dừng lại ở đó, số phận của cô còn lưu lạc, lưu lạc, lưu lạc, lưu lạc suốt mười lăm năm, vô số tai họa ập xuống đầu cô.

    Họ là nạn nhân của chế độ phong kiến ​​với những luật lệ khắc nghiệt, đối xử bất công với các cô gái. Ở đó, mạng sống của phụ nữ không được coi trọng, họ bị mua bán và trả giá một cách công khai. Trong xã hội đó, họ như một vật vô tri, không quyết đoán, không biện minh. Một người phụ nữ với nỗi đau tương tự cũng được nhắc đến trong câu ca dao:

    Thân em như hạt mưa rơi xuống hang, hạt ra đồng gieo.

    Ca dao tuy có nguồn gốc từ nhân dân lao động nhưng nó vẫn phản ánh số phận của người phụ nữ – “hạt mưa rơi”. “Hạt mưa” ấy không biết sẽ rơi xuống đâu: là “pháo đài” hay “ruộng cày”? Dù ở đâu, dù muốn hay không, họ cũng phải chấp nhận.

    Nữ học giả He Chunxiang cũng là một phụ nữ thời phong kiến, bà cũng hiểu số phận của mình sẽ bị xã hội xô đẩy về đâu. Cô viết:

    Thân em tròn trắng lênh đênh cùng non nước

    Cô ấy không muốn sống một cuộc sống bất công như vậy. Cô khẳng định phụ nữ phải có địa vị khác trong xã hội. Nhưng những nỗ lực của cô chỉ là tia sáng hiếm hoi trong cuộc đời tăm tối của người phụ nữ. Suy cho cùng, đau khổ ập đến với họ cũng là do họ sống quá cam chịu và dễ dàng thỏa hiệp. Nếu họ biết đấu tranh đến cùng, không chọn cái chết để thanh minh cho mình thì những bất công đó không có điều kiện phát triển.

    Chúng ta ai cũng xót xa, thương cảm cho số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Là những con người sống trong thời đại mới, chúng ta vui mừng vì không còn bị ràng buộc bởi những quy tắc và thói quen xấu đó.

    4. Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến-mẫu 3

    Xui xẻo cũng là từ phổ biến khiến chị em chạnh lòng.

    Nói về thân phận “đàn bà” thì Nguyễn Du đành phải thở dài – những người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​Việt Nam xưa. Thật vậy, từ xưa đến nay, những người phụ nữ chân yếu tay mềm luôn là đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Trong xã hội phong kiến, thân phận của họ càng thấp hèn, khốn khổ hơn. Chỉ cần nhìn Vũ Thích trong “Truyện nam nữ” của Nguyễn Dữ và nàng Sở Kiều trong kiệt tác văn học “Truyện kiều kiều” của Nguyễn Du, là ta có thể hiểu hết số phận của họ.

    Số phận của bà lão thật bi đát: khốn khổ, bất hạnh, bất công, tài hoa, bạc mệnh – hồng nhan, nhiều éo le.

    <3 nhưng không có cuộc sống hạnh phúc. Cô kết hôn với một người còn sống – một người đàn ông quyền lực, giàu có nhưng hay nghi ngờ và ghen tuông. Vì vậy, trong gia đình đó, các vũ công luôn phải kỷ luật đến mức vợ chồng phải có những cuộc cãi vã. Những người như cô sống trong một xã hội gia trưởng thì làm sao có cuộc sống bình đẳng và hạnh phúc trong xã hội đó. Rồi họ cũng là nạn nhân của những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Bà sinh ra để đi chiến đấu nên bà ở nhà chăm con và chăm sóc mẹ chồng già yếu. Tuy nhiên, cô vẫn bị chồng phụ bạc, cuối cùng chỉ có thể chọn cái chết để chứng minh mình vô tội.

    Số phận của Thôi Kiều Vương là một bi kịch, một bi kịch tình yêu, một mối tình đầu tan vỡ. Nàng phải bán thân chuộc cha, thanh lau hai lần thanh y. Ông đã hai lần tự tử, hai lần vào tu viện, hai lần vào nhà chứa và nhiều lần bị tước đoạt quyền sống và hạnh phúc khi còn là một đứa trẻ. Trái tim thuần khiết của một người phụ nữ tài năng hoàn toàn như lũa. Suốt mười lăm năm lưu lạc, cô kiều nữ này đã phải chịu biết bao cay đắng, tủi nhục hành hạ bản thân. Nỗi đau đớn nhất của chị là nỗi đau khi nhân phẩm bị chà đạp, lòng tự trọng bị sỉ nhục:

    Lần sau thân lươn sẽ được bao phủ bởi trái tim thanh tịnh.

    Như cánh bèo cưỡi gió phá sóng, như dong buồm lênh đênh trên biển cả, đời trôi dạt trùng khơi là trôi về cuối bến bờ hoang vắng. Giữa không trung không có chỗ cho một người. Dẫu rằng người đàn ông ấy chỉ có một ước muốn giản đơn là được sống yên ổn bên cha mẹ, được yêu thương và chung thủy với những người mình yêu thương.

    Chính xã hội phong kiến ​​suy đồi đã khiến cho những vũ nữ, kiều bào và những tài hoa, mỹ nữ khác phải sống khổ cực, sống bần hàn, trôi nổi như vậy!

    Căm hận xã hội phong kiến ​​suy đồi, văn nhân càng kính trọng, yêu thương, bảo vệ và ca ngợi phẩm giá của người phụ nữ. vu thi thiết, nguyễn du trịnh trọng giới thiệu: “… nam xuông là một cô gái quê mùa, tính tình hiền lành, tấm lòng nhân hậu”. Mở đầu bài văn, bức chân dung của bà mang theo sự ngợi ca, kính trọng của tác giả dành cho bà. Không dừng lại ở đó, xuyên suốt bài báo người đọc còn gặp những mỹ nam, mỹ nữ. Cô ấy là một người mẹ yêu thương, một người con dâu tốt và một người vợ tận tụy. Khi chồng ra trận, bà luôn giữ gìn bản thân, yêu chồng, nhớ chồng, một lòng một dạ với chồng. Vũ công chăm con nhỏ, mẹ già sinh bệnh vì thương nhớ con. Có thể nói, các nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Du đã đánh giá rất cao vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của ông.

    Hoa hậu hải ngoại ở đâu? Viết, Nguyễn Du nâng niu trân trọng:

    Một hai đổ nước vào sắc thì phải đòi một tài hai nét.

    Về sắc đẹp, Kiều là một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Trên thế giới chỉ có Qiao là tốt nhất, nhưng về tài năng, bên cạnh cô ấy, có thể có một người thứ hai, Dantian. Bút và mực của nhà thơ về Jo có lẽ đã đạt đến đỉnh cao, và không có từ nào để mô tả tài năng của cô ấy. Ngoài tài năng và sắc đẹp, Ruan Du còn khen Kiều là người có tình nghĩa sâu sắc. Kiều là người phụ nữ thủy chung bị bán vào lầu xanh nhưng thề sống chết để bảo vệ thân phận. Cô là một người con gái hiếu thảo, sẵn sàng “bán mình cứu cha” và giúp gia đình thoát khỏi khó khăn, bất chấp hạnh phúc của bản thân. Hoa kiều Việt Nam báo hiếu để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Trong cuộc đời dài lê thê của mình, Joe không bao giờ chịu thua, không bao giờ nhượng bộ, trong ý thức của cô, cô luôn là một “kẻ nổi loạn”, một “kẻ nổi loạn”. Cô thoát khỏi lầu xanh xấu hổ của phu nhân Bạc phu nhân, thoát khỏi “hang rắn độc” của gia tộc thái giám, cuối cùng đến với nam chính từ biển cả. Cuối cùng, cô ấy trả ơn, trả thù, minh bạch và công khai. Việt kiều là hiện thân của người phụ nữ khao khát tự do, công bằng và công lý.

    Nguyễn Du, Nguyễn Du đã miêu tả chân thực, đáng thương số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, mang tính nhân văn sâu sắc, cao cả. Viết về những người phụ nữ xinh đẹp, bất hạnh ấy, cả nhà văn, nhà thơ đều dành lời ngợi ca, nâng niu họ vô bờ bến. Chúng tôi đồng cảm với hoàn cảnh của họ hơn bao giờ hết.

    5. Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến-mẫu 4

    Có lẽ đề tài người phụ nữ không còn xa lạ trong văn học trung đại Việt Nam. Nhưng nổi tiếng nhất là “Nam Nữ Truyện” và “Truyện Kiều” của Ruan Du.

    Trước hết, “Chuyện Nam Xương Nữ” của nhà văn Nguyễn Ngữ khắc họa một vũ nữ là nạn nhân của một xã hội gia trưởng đầy bất công. Cô ấy là người vợ biết nề nếp, không bao giờ để vợ chồng có sự chênh lệch. Khi chồng sắp đi lính, nàng và nàng không một lời oán trách, họ ân cần nhẹ nhàng thuyết phục: “Lang Quân nào dám mong đội ấn áo gấm về với mình. quê hương trong chuyến đi này, tôi chỉ hy vọng rằng khi bạn trở lại, bạn có thể mang theo hai bộ quần áo an toàn. “Lời nói là đủ …” Công chúa không muốn chồng trở về trong vinh hoa phú quý mà chỉ mong bình yên. Một điều ước giản dị bộc lộ tấm lòng yêu chồng sâu sắc. Bởi vì bước ra chiến trường đồng nghĩa với việc đối mặt với nguy hiểm và cái chết. Vì vậy, việc mong chồng bình an trở về là điều thiết thực nhất.

    Bao nhiêu năm chồng vắng nhà, một mình nuôi con và chăm sóc mẹ chồng, Phù Nương chưa một lần phàn nàn. Khi mẹ chồng đổ bệnh vì thương nhớ con, cô vẫn khuyên nhủ bằng mọi cách. Sau khi mẹ chồng qua đời, “mọi việc tang lễ đều không tiếc, phụng dưỡng họ như phụng dưỡng cha mẹ ruột”. Đứa con còn nhỏ, cô rất yêu anh và muốn anh có một gia đình trọn vẹn. Wu Nian đã nói dối con trai mình, chỉ vào cái bóng và nói rằng đó là cha của Dan. Chính vì một lời nói dối vô hại mà sau này đã mang đến bi kịch cho cuộc đời cô.

    Trương tiên sinh đi bộ đội về, gia đình đoàn tụ, những tưởng cuộc sống hiện tại sẽ rất hạnh phúc, không ngờ cuộc sống của một vũ công lại trở nên bất hạnh. Khi biết tin mẹ mất, tôi rất đau buồn nên đã đưa con ra mộ thăm mẹ. Thấy con khóc, ông an ủi: “Đừng khóc, đừng khóc! Lòng cha đã buồn lắm rồi!”. Đứa con hồn nhiên hỏi bố: “Bố cũng là bố hả? Bố lại nói được rồi, khác hẳn bố nó chỉ biết im lặng”. “Cái bóng” trở thành người cha an ủi con nhưng lại trở thành nguyên nhân dẫn đến bi kịch của cô vũ công. Sau khi trở về, Zhang Sheng mắng vợ để trút giận. Công chúa mặc dù rất hối hận nhưng đã giải thích mọi chuyện để chồng hiểu. Sự bảo vệ của người thân và hàng xóm cũng không thắng. Biết là vô ích, cô liền tìm đến cái chết để chứng minh mình vô tội. Người phụ nữ tội nghiệp mang tiếng mất trinh, không giữ được sự trong trắng, bị chồng ruồng bỏ nên phải tìm đến cái chết để rửa sạch tội lỗi. Cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​đầy bất công. Bạn không thể quyết định tình yêu, hôn nhân và cuộc sống của mình. Họ phải nhẫn nhịn, chịu đựng và không thể chống lại xã hội phong kiến ​​đó. Họ bị xã hội nam quyền chà đạp, nhưng không thể tự quyết định vận mệnh của mình.

    Cũng trong “Sở Kiều truyện”, Nguyễn Du đã tạo ra hình tượng Thôi Kiều——nàng là nạn nhân của xã hội kim tiền. Vì tiền mà phạm pháp gây cảnh tan nát gia đình hải ngoại:

    Vào một ngày kỳ lạ, rắc rối chỉ vì tiền.

    Xinh đẹp và tài giỏi nhưng trong xã hội ấy, Thôi Kiều không những không được hưởng hạnh phúc mà còn phải chịu nhiều cay đắng, bất hạnh. Cô phải bán thân làm thư sinh để đổi lấy tiền chuộc cha và giải thoát anh trai khỏi ngục tù. Việt kiều trở thành món hàng để mua bán, mặc cả. Không chỉ vậy, cô còn bị lừa vào lầu xanh, nhốt vào xà lim, bắt đi đón khách. Cuộc đời cô như một đóa hoa mong manh, bị nước cuốn trôi và tàn úa. Trước bức tường – nơi Jo bị người chú giam cầm – cô bày tỏ sự xót xa về thân phận của mình:

    Lo ai bên hồ chiều ?Lo nước mới lên hoa trôi ?Màu xanh

    Nỗi đau ám ảnh cuộc đời chị thật dai dẳng. Cô miễn cưỡng chịu đựng những chiêu trò của vợ. Mười lăm năm lưu lạc, chịu bao tủi nhục đau thương. Người cô teo tóp khi “hát hai lần ô nhịp dài, hai lần ô nhịp y”.

    Xem Thêm: 500 tên hay cho bé trai đầy đủ các họ phổ biến

    Điểm giống nhau giữa hai nhân vật này là đều là những phụ nữ xinh đẹp và tài giỏi. Họ đều là nạn nhân của xã hội phong kiến ​​đầy bất công. Một xã hội mà địa vị của người phụ nữ luôn bị coi thường, bị coi thường và bị đàn áp một cách tàn nhẫn. Vu nương hay thuý kiều đều là những người phụ nữ tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa. Khi viết về người phụ nữ, cả Nguyễn Ngu và Nguyễn Du đều bênh vực họ trên quan điểm nhân đạo, lên án xã hội chà đạp lên cuộc đời họ.

    Tóm lại, qua những phân tích trên, bạn đọc dường như đã hiểu hơn về phụ nữ. Vũ Nương và Thúy Kiều là một trong những nhân vật tiêu biểu đại diện cho phụ nữ Việt Nam xưa.

    6. Nhìn Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​từ truyện kiều—Mô hình 5

    Phụ nữ là đối tượng đáng được yêu thương và trân trọng. Tuy nhiên, trong xã hội cũ, họ phải chịu nhiều cay đắng, bất hạnh. Và Truyện Kiều của Nguyễn Dữ và Truyện Kiều của Nguyễn Du được thể hiện qua hai nhân vật vu nương và thuý kiều.

    Đầu tiên phải kể đến vũ công, cô ấy không chỉ đẹp bên ngoài mà còn đẹp cả bên trong. Cô ấy là một người vợ rất hiểu biết và lịch sự. Nhưng cuộc hôn nhân của cô không hạnh phúc. Lý do thứ nhất là do bên kia chưa đăng ký kết hôn. Trường Sinh là con nhà giàu có, vì si mê công chúa nên đã xin mẹ nàng đem trăm lạng vàng đến cầu hôn nàng. Khoảng cách giàu nghèo chênh lệch khiến Wu Nie luôn sống trong mặc cảm “con cháu khó cậy giàu”. Cũng là một cách dung túng cho thói vũ phu và hành vi xấu. Trong những năm chồng đi lính, gái nhảy phải vừa dạy con vừa phụng dưỡng mẹ chồng. Nhưng chỉ vì lời nói của đứa trẻ, anh đã lầm tưởng rằng vợ mình đã mất trinh. Tính đa nghi, độc đoán khiến Trương Sinh không để vợ giải thích. Cuối cùng, cô phải tìm đến cái chết để chứng minh mình vô tội. Khi công chúa qua đời, cô đã sống cuộc đời của mình mà không bị xã hội lên án. Biết mình bị oan nhầm công chúa, Trương chỉ biết ngậm ngùi mà không có hành động cụ thể để giải oan cho vợ.

    Một nhà sư không thể chọn tình yêu và hôn nhân. Theo quan niệm “Cha mẹ yên bề gia thất” của Nho giáo, cô tuân theo sự sắp đặt của cha mẹ. Cuộc hôn nhân và sự ra đời của cô cũng gặp nhiều bất hạnh. Chiến tranh chia rẽ các cặp đôi, và chính chiến tranh đã nuôi dưỡng những hiểu lầm về sự tồn tại. Sự ghen tuông, đa nghi của chồng còn khiến cô tìm đến cái chết để giải tỏa ân oán. Tất cả những lý do này khiến cuộc sống của cô kém may mắn hơn hầu hết. Trong một xã hội bất công trọng nam khinh nữ, những vũ công chỉ biết chịu đựng chứ không thể chống lại cái xã hội bất công ấy. Để rồi cuối cùng bạn phải chọn cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Thông qua nhân vật vu nương, nguyễn văn tố cáo xã hội phụ quyền hà khắc, bất nhân gây ra biết bao bất công cho người phụ nữ.

    Nguyễn Du đóng vai một cô gái tài sắc nhưng kém may mắn trong vai thuý kiều:

    Quả kiwi sắc hơn, mặn hơn, sắc hơn và nhiều phần hơn so với hiện tại. Thu thủy sơn xuân, hoa ghen, liễu non. Tranh đủ nghe tiếng hát.

    Không chỉ xinh đẹp mà còn tài giỏi nhưng Joe vẫn không tránh khỏi kiếp “mỹ nhân bạc mệnh”. Cô phải bán thân làm thư sinh để đổi lấy tiền chuộc cha và giải thoát anh trai khỏi ngục tù. Chiếc kiều trở thành món hàng được người ta mua bán mặc cả. Cô ấy đã đánh mất phẩm giá của mình như một con người. Không chỉ vậy, Hoa kiều còn bị lừa vào lầu xanh, bị bỏ tù, bị ép tiếp khách. Cuộc đời cô từ đó trở nên ô nhục. Trước bức tường – nơi Jo bị người chú giam cầm – cô bày tỏ sự xót xa về thân phận của mình:

    Lo ai bên hồ chiều ?Lo nước mới lên hoa trôi ?Màu xanh

    Nhớ người thương, nhớ ơn người yêu nhưng Việt kiều mãi mãi không về. Cô chỉ có thể chịu đựng những trò đùa của bà. Mười lăm năm lưu đày là mười lăm năm chị phải đối diện với những đau đớn, tủi hờn và ân hận. Cơ thể cô héo mòn vì “hai lần hát thoát y, hai lần cởi áo”. Cuối cùng khi đoàn tụ với Kim Trọng, cả hai chỉ còn biết giữ lại người bạn tâm giao.

    Hai nhân vật này đều là những người phụ nữ tài năng và xinh đẹp. Cả hai đều là nạn nhân của xã hội phong kiến ​​đầy bất công. Một xã hội mà người phụ nữ luôn bị coi thường, khinh thường và đánh đập không thương tiếc. Cả vu nương và thuý kiều đều là những người phụ nữ tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa. Nguyễn Du và nhà văn Nguyễn Du đều tự bảo vệ mình trên cơ sở nhân đạo, lên án xã hội chà đạp lên cuộc sống của họ.

    Từ những phân tích trên có thể thấy Võ Nương và Thôi Kiều đều là nạn nhân của xã hội cổ đại. Chúng được các tác giả xây dựng nhằm chuyển tải tư tưởng nhân đạo sâu sắc.

    7.Số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến-mô hình 6

    Nguyễn Du sống ở thế kỷ 16 tại quê hương ở huyện Trường Tân nay là Thanh Mão – Hải Dương. Ông là một học sinh của trạng thái khiêm tốn. Tác phẩm của ông có đóng góp to lớn cho nền văn học trung đại Việt Nam. “Truyền thuyết về Wanlu” bao gồm tổng thể 20 truyện ngắn, trong đó câu chuyện về đứa con trai của xương nam là câu chuyện thứ 16 của truyền thuyết về Wanlu, bắt đầu với câu chuyện về “vợ của anh ấy”. Nó thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của họ qua nhân vật chính Phù Nương.

    Trước hết, Phù Nương là một người phụ nữ đa tài, một người phụ nữ bình thường con nhà nghèo nhưng có cả nhan sắc lẫn đức hạnh. Tính cách dịu dàng của cô ấy làm tăng thêm tâm trạng tốt.

    Vẻ đẹp của các vũ công mang vẻ đẹp của phụ nữ – chiếc bánh trong thơ của Vu Huyền Hương là “trắng và tròn”. Vì thế sinh ra phú quý, xin mẹ trăm lạng vàng để cưới, hôn nhân không bình đẳng, sinh lòng nghi kỵ, ghen ghét. Tuy nhiên, trong các cặp vợ chồng, bà là một người phụ nữ khôn ngoan và nhân hậu, khi biết chồng đa nghi, ghen tuông thì “có kỷ cương… mất hòa khí”, chứng tỏ bà rất khéo vun vén hạnh phúc. gia đình hạnh phúc.

    Sống trong thời đại loạn lạc nên chẳng bao lâu sau ngày hội ngộ, ông tòng quân ra biên cương. Tiễn chồng đi thám hiểm, bà rót một ly rượu chúc ông mạnh khỏe: “Không ngờ chuyến đi này… là đủ”. Mong ước của cô rất đơn giản, chỉ bởi cô coi trọng hạnh phúc gia đình hơn mọi danh lợi phù phiếm ở đời. Nhiều năm trôi qua, công chúa nhớ chồng da diết, nàng nói: “Vườn đầy bướm bay, núi đầy mây, nỗi buồn trong trời không sao nguôi được.”

    Tâm trạng luyến tiếc của các vũ công cũng là tâm trạng chung của nhiều kẻ chinh phạt trong thời loạn lạc năm xưa.

    “Em mãi nhớ anh, đường về trời, trời cao thăm thẳm, em nhớ anh nhiều”

    (Duan Shiyan – Doan Shiyan)

    Ruan Yong thể hiện tâm trạng này, không chỉ đồng cảm với nỗi đau phải xa cách Wu Niang, mà còn ca ngợi lòng trung thành của cô ấy.

    Phù Nương không chỉ là một người vợ thủy chung mà còn là một người mẹ hiền, một người con dâu hiếu thảo, chỉ một tuần sau chiến tranh, nàng đã sinh và nuôi dạy một đứa trẻ. Để bù đắp cho sự vắng mặt của cha con trai, cô chỉ vào bóng mình trên tường và nói rằng đó là cha của Dan, cộng với mẹ chồng già, người đã chăm sóc mẹ cô rất chu đáo, đề bạt và chăm sóc. được nuôi dưỡng giống như cha mẹ của mình. Cô và gia đình chồng đã chọn chữ “gồng”. Đó là một điều rất đáng trân trọng đối với những người làm nghề đào hoa, bởi xưa nay, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu dường như chưa bao giờ thuận buồm xuôi gió, chứa đầy những định kiến ​​khắt khe.

    Tấm lòng của cô đã được mẹ chồng ưng thuận, có thể thấy qua lời trăn trối của bà trước khi qua đời: “Sau này ông trời ưu ái phù hộ cho Thanh Lam phái, hôn ta như không phụ phụ thuộc vào bạn.” Phù Nương là những người phụ nữ lý tưởng trong xã hội cổ đại: Công, Dung, Yu, Le.

    Là một người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp, lẽ ra chị phải sống một cuộc đời hạnh phúc, ít ra chị cũng mong đó là niềm vui-giải trí, nghi ngờ vợ chồng, con cái đoàn tụ. Tuy nhiên, cuộc đời của cô vũ nữ cũng buồn và đẫm nước mắt như cuộc đời của bà lão. Nỗi bất hạnh của cô bắt đầu từ sự hồi sinh của kẻ thù, câu chuyện của Tong Ying trở nên đáng ngờ và cô đổ lỗi cho Wu Niang. Anh cho rằng chị là người vợ tồi, chị tìm mọi cách giải thích để bày tỏ lòng chung thủy, cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình đang trên bờ vực đổ vỡ nhưng đều vô ích. Ghen tuông tự nhiên và vũ phu vô học.

    Trương sinh đối với nàng rất tàn nhẫn, “quở mắng đá bay”, mặc cho vợ giải thích, hàng xóm khuyên can. Khi tuyệt vọng, Phù Nương phải mượn dòng nước quê hương để xoa dịu trái tim mình. Nàng “tắm rửa đến bến Hoàng Giang ngẩng đầu lên trời kêu oan mọi người”, số phận của con người đáng thương này thật nghiệt ngã… đáng khinh. Sau đó cô nhảy xuống sông tự tử. Ngô Nữ bị chính người thân của mình đẩy đến bờ vực thẳm, gây nên bi kịch gia đình. Cảm nhận nhân vật Vũ Nương (thân phận người phụ nữ trong xhpk) qua tác phẩm “Chuyện chàng Xương Khúc”, “Sống thà chết”

    Với tấm lòng yêu nước thương dân, Nguyễn Thiếp đã không để vu oan cho sự trong trắng, xinh đẹp của công chúa nên đoạn kết của truyện đầy ắp những tình tiết hoang đường. Sau chuyện của phan lang, trưởng sinh lập băng để thanh minh cho vợ. Cô ấy trở lại trong uy nghi, nhưng chỉ trong một khoảnh khắc, rồi ra đi mãi mãi. Phù Nương vĩnh viễn mất đi quyền sống, quyền hạnh phúc, người vợ và người mẹ. Bi kịch của người vũ nữ cũng là bi kịch của người phụ nữ trong xã hội cũ. Bi kịch này không chỉ giới hạn trong thế kỷ 16, 17, 18 mà đến đầu thế kỷ 20, Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều.

    “Đàn bà nói ra thì khổ, xui là chuyện thường”

    Tiếc thay, những thế lực xấu xa đã chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của con người – phụ nữ. Ông ca ngợi sự thoái hóa phi lý của xã hội phong kiến, chế độ gia trưởng, và là hiện thân của tính cách ham hố, ghen tuông mù quáng, vũ phu nhưng cuộc đời chứa đầy hận thù. Truyền thống là tiền và quyền lực của đồng tiền nên muốn sinh con nhà giàu phải bỏ ra trăm lạng vàng để cưới công chúa. Ngoài ra, ông còn lên án những cuộc chiến tranh phi nghĩa làm tan nát hạnh phúc gia đình của con người.

    Chính vì vậy, bằng cách xây dựng cốt truyện hết sức độc đáo kết hợp hài hòa giữa yếu tố tự sự, trữ tình và hiện thực huyền ảo. Truyện “nam nữ xương cốt” của Nguyễn Ngu đã để lại trong chúng ta nhiều ấn tượng tốt đẹp. Câu chuyện về nàng công chúa đầy những phẩm chất tốt đẹp truyền thống nhưng cuộc đời của nàng lại đầy éo le và nước mắt. Vẻ đẹp của số phận nàng cũng là vẻ đẹp của số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​xưa. Ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới công bằng, dân chủ và văn minh, nơi phụ nữ chiếm một nửa thế giới và họ được hưởng các quyền bình đẳng như nam giới. Chúng ta hãy tiếp nối vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ xưa và đồng cảm với số phận của họ.

    8. Suy nghĩ của em về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến ​​từ góc nhìn của nhân vật vũ nữ

    Nguyễn Du sống ở thế kỷ 16 tại quê hương ở huyện Trường Tân nay là Thanh Mão – Hải Dương. Ông là một học sinh của trạng thái khiêm tốn. Tác phẩm của ông có đóng góp to lớn cho nền văn học trung đại Việt Nam. Thông thường, “Truyền thuyết về Manruk” bao gồm hai mươi truyện ngắn. Trong đó, câu chuyện về một người đàn ông bằng xương và một người phụ nữ là chương thứ 16 của người đàn ông huyền thoại Luc, bắt đầu với câu chuyện về “Người vợ của chàng trai trẻ”. Nguyên Ngư thể hiện sự đồng cảm với Võ Nương và những người có số phận bi thảm như nàng qua việc tạo nên hình ảnh một Võ Nương đầy xinh đẹp và chịu nhiều bất công.

    vu nương tên thật là vu thị thiết, sinh ra ở nam bộ, trực thuộc cung ly nhan, xuất thân nghèo khó, vừa có nhan sắc lại có đức hạnh. Vì vậy, người con trai giàu có đã xin mẹ một trăm lượng vàng để cưới anh ta.

    Những phẩm chất tốt đẹp của vũ công được thể hiện rõ ràng trong mối quan hệ của cô ấy với gia đình. Trong cuộc sống hôn nhân, cô ấy rất nề nếp, ngoan ngoãn và luôn biết kỷ luật nên dù bị chồng nghi ngờ, bảo vệ chồng thái quá nhưng hai vợ chồng chưa bao giờ xảy ra mâu thuẫn. Vì vậy, dù hôn nhân không hết tình cảm, lại có dấu hiệu làm ăn nhưng gia đình luôn yên ấm nhờ đức tính của vũ công. Khi tiễn chàng ra trận, nàng rót một chén rượu đầy dặn dò, trìu mến nói: “Ta không dám mong được khoác ấn hầu, áo gấm về quê trong chuyến đi của chàng, thế là đủ rồi. ” Lời chia tay ấy nghĩa là nàng không cầu vinh hoa mà chỉ mong chàng bình an trở về. Đây là mong ước bình dị và bình thường của người vợ, người phụ nữ luôn mong muốn cuộc sống gia đình được đoàn tụ, hạnh phúc. Không chỉ vậy, bà còn đồng cảm với những khó khăn, vất vả mà chồng mình phải chịu khi đi lính: “E rằng việc quân khó lường, đội hình địch khó lường, có gắng sức cũng không được. phải chẻ tre.” Ừ, nhưng mùa dưa chín quá làm con lo, mẹ Lo. ” Rồi nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải, nhớ nhung trong những ngày chồng vắng nhà: “Ngắm trăng vẫn phố cũ, sửa soạn áo đông, đưa người xa xứ, nhìn liễu rũ nơi hoang vắng, lại khóc thương. “Và loài vật dù có ngàn chữ cũng không sợ cánh hồng bay” Câu văn song đối, cân đối, nhịp nhàng như nhịp tim thổn thức của người vợ trẻ thể hiện tình yêu thương chồng và niềm khao khát một gia đình hạnh phúc. Rời xa chồng, Phù Nương không bao giờ quên nhớ nhung: “Ngày qua ngày, đã nửa năm rồi, mỗi lần thấy vườn bướm bay lượn, mây mù che núi, góc trời khó lường. ngăn chặn.” Tác giả sử dụng những hình ảnh ước lệ và mượn khung cảnh thiên nhiên để diễn tả sự trôi qua của thời gian. Thời thế thay đổi, sông núi đổi thay, mùa xuân vui vẻ qua đi, mùa đông u ám lại đến, lòng người tràn đầy khát khao. Cụ thể, cô chỉ vào bóng của chính mình trên tường và nói với con trai: “Bố lại đến rồi”, không chỉ để cậu bé nhớ đến hình bóng của cha trong trái tim non nớt mà còn thể hiện tình cảm trước sau như một. , như keo như sơn với bóng. Nói với tôi điều này là để nguôi ngoai nỗi nhớ chồng. Tâm trạng của công chúa cũng là tâm trạng chung của những người vợ, người thiếp đi lính trong lúc hoạn nạn:

    “Nhớ anh hoài lối về trời, trời cao thăm thẳm nỗi nhớ về anh không dứt” (trích “Chinh phục chắt lọc” – đoàn thị điểm)

    Không chỉ là một người vợ hiếu thảo, mà còn là một người con dâu hiếu thảo. Khi chồng đi lính, chị còn trẻ nhưng đã phải gồng gánh mọi việc trong gia đình chồng. Ngoài xã hội, mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu khó dung hòa nhưng công chúa vẫn yêu thương mẹ chồng như chính cha mẹ đẻ của mình. Khi mẹ chồng ốm, nàng “bốc thuốc lễ Phật, lấy lời khuyên ngọt”. Những lời nói nhẹ nhàng và cử chỉ ân cần của cô ấy thật đáng ngưỡng mộ. Đặc biệt là lời trăn trối của mẹ chồng trước khi qua đời: “Dài ngắn không đếm xuể, trời tươi đất rộng, mẹ không muốn chờ chồng con về nhưng mẹ phải nấu cháo Đêm khuya chuông reo báo mệnh Thân nguy nan cha lo cho con Thầy đi xa Ở đây mẹ chết bất cứ lúc nào không thể về .Chúc may mắn, phước lành và hạt giống tốt, nhiều con cháu, cầu mong Green River không phản bội bạn, coi như tôi không có ý giúp bạn” là lời khẳng định và tri ân của nữ vũ công đối với công lao của mình và gia đình. gia đình. Trong xã hội lúc bấy giờ, đây thực sự là sự đánh giá chính xác, khách quan, khiến chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp phẩm chất của người nghệ sĩ múa. Sau này, khi mẹ chồng mất, cô lại nhẫn tâm chăm sóc mọi thứ như cha mẹ ruột. Cô làm những điều đó không chỉ vì bổn phận, trách nhiệm của một người con dâu mà còn vì tình yêu thương, lòng hiếu thảo với mẹ. Có thể thấy, Phù Nương là một người phụ nữ dũng cảm và tháo vát. Tam đức của người vợ, người con và người mẹ đều có thể phát huy được: trung thành, yêu chồng, thương con và hiếu thảo với mẹ. Nàng là mẫu phụ nữ lý tưởng trong xã hội phong kiến ​​xưa, đáng được hạnh phúc và trân trọng.

    Cứ tưởng một người phụ nữ như cô vũ công sẽ có một cuộc sống hạnh phúc, nào ngờ lại vướng vào một mối oan nghiệt. Lúc này anh mới sực tỉnh, nghe đứa trẻ nói xong, anh nghi ngờ cô đã mất bình tĩnh mà hành động thô bạo. Trước khi tự tử, cô đã cố giải thích để chồng hiểu lòng mình. Nàng nói về thân phận và tình vợ chồng, đồng thời khẳng định lòng thủy chung: “Ta là con nhà nghèo, cậy nhờ nhà giàu. phôi thai là do binh lửa. Hãy giữ lấy hạng nhất. Những lời nàng nói đều là để hàn gắn hạnh phúc gia đình đang trên bờ vực tan vỡ. Sau khi Võ Nương giải thích, nàng mãi mãi không tin nên nàng mắng nhiếc nặng nề rồi đuổi nàng đi.Hạnh phúc gia đình – niềm khao khát cả đời của nàng đã vụt tắt.Tan vỡ, tình yêu không còn: “Hôm nay bình rơi, trâm rơi, mây tạnh mưa, sen tàn cái ao, lá liễu héo theo gió, tuyết rơi, hoa rụng cành, mùa xuân chim én rời đàn, nước sâu cánh buồm, và Làm thế nào để đi đến núi Biwang ? “Hôn nhân không thể hàn gắn. Bao công sức xây dựng tổ ấm trở nên vô nghĩa. Nỗi oan chưa được giải, chị thổ lộ nỗi lòng với tử thần: “Con người bất hạnh này bạc mệnh lắm. Chồng con bỏ rơi chị rồi sẽ về đâu?” đi? Danh tiếng của cô ấy thật đáng xấu hổ.”, thần sông có một linh hồn. Xin hãy kiên nhẫn, cá và tôm, hãy nấu ăn cho diều và quạ ở trên, xin vui lòng phàn nàn. ” Than thở như một lời nguyền, xin thần sông chứng giám cho nỗi oan khuất của mình. Hành động nhảy xuống sông Hoàng Hà là hành động cuối cùng để bảo toàn danh dự. Nàng nhìn đến cái chết trong tuyệt vọng, nhưng cũng với một hướng đi đầy lý trí: trước khi chết, cô ấy đã tắm rửa sạch sẽ Hãy trong sạch và cầu nguyện bình an.

    Vì sự ngây thơ của mình, Fu Niang đã được Lingpi cứu và đưa trở lại Guidong. Ở thủy cung, nàng sống một cuộc sống sung túc cùng các tiên nữ nhưng nàng vẫn không sao nguôi ngoai nỗi đau nơi trần gian, nỗi nhớ người thân, quê hương và đặc biệt là mong muốn khôi phục thanh danh bấy lâu nay. Hình ảnh công chúa trở về bàn thờ và lời nói của nàng cho thấy nàng là người chung thủy và giàu lòng thương xót. Công phu đạo văn và sự hối hận muộn màng của Trường Sinh thể hiện tấm lòng vị tha cao cả. Điều này cũng thể hiện ước mơ công lý ngàn năm của nhân dân ta, rằng người tốt dù chịu bao nhiêu bất công cũng sẽ được phục thiện.

    Thành công của truyện là nhờ sự sắp xếp các tình tiết hợp lý và cách tạo tình huống thắt nút, tháo gỡ. Trên cơ sở cốt truyện đã có, tác giả sắp xếp thêm một số tình tiết, tăng giảm, làm nổi bật những chi tiết có ý nghĩa, làm cho diễn biến hợp lí, bổ sung tính bi kịch, làm cho câu chuyện trên trở nên hấp dẫn. Nguyễn Du đã khéo léo sử dụng yếu tố kì ảo để tạo nên một kết thúc có hậu, làm nổi bật vẻ đẹp nhân vật chính.

    Thông qua vẻ đẹp và bi kịch của Võ Nương, Nguyễn Du đã lên án, tố cáo xã hội phong kiến ​​trọng nam khinh nữ, đồng thời bày tỏ lòng kính trọng nhân dân. Bất hạnh xã hội và thiệt thòi.

    Mời bạn tham khảo thêm những thông tin hữu ích khác tại mục Bibliography – tài liệu của hoatieu.vn.

    Xem thêm: Tổng hợp 10 thế mai vàng đẹp, ý nghĩa ngày Tết

    Xem thêm:  Tập làm văn lớp 5: Tả cô giáo mà em yêu quý Dàn ý & 39 bài văn tả cô giáo lớp 5

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *