Văn mẫu lớp 8: Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh Dàn ý & 14 mẫu phân tích Đi đường (Tẩu Lộ) của Hồ Chí Minh

Phan tich bai tho di duong cua ho chi minh

Những câu thơ trên đường ca ngợi hình ảnh người chiến sĩ cách mạng vượt qua mọi khó khăn bằng ý chí và tinh thần lạc quan. Phân tích bài thơ Đi đường của Hồ Chí Minh kèm 14 ví dụ giúp học sinh lớp 8 nhanh chóng hoàn thành bài soạn.

Qua đó, chúng ta càng hiểu rõ hơn những phẩm chất cao quý của Bác Hồ kính yêu, để không ngừng học tập và thi đua làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chi tiết mời các bạn tải bài viết về tham khảo miễn phí:

Bạn đang xem: Phan tich bai tho di duong cua ho chi minh

Phân tích dàn ý bài thơ “Đi bộ ngao du”

Một. Giới thiệu:

  • Bài thơ “Đi đường” là một trong những bài thơ thể hiện phẩm chất và tinh thần lạc quan của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Hồ Chí Minh.
  • b. Văn bản:

    Bài 1: Đường núi khó đi

    • Nói thẳng ra: đi trên đường – gian khổ: phải tự mình thực hành, trải nghiệm mới hiểu được bản chất của sự việc.
    • Từ “núi cao” có nghĩa là đỉnh núi liên tục ngoằn ngoèo.
    • => Ngẫm về những gian nan, những khúc quanh của cuộc đời; về ý chí, nghị lực để vượt qua tất cả.

      Chủ đề 2: Niềm vui đứng trên đỉnh cao của chiến thắng

      • Niềm vui chinh phục đỉnh núi: “đến cùng”
      • Tư thế, quan điểm của con người khi chinh phục thiên nhiên, vượt qua giới hạn của bản thân: “quy tụ thiên hạ vạn niên”
      • =>Niềm vui khi đứng tự do và chiêm ngưỡng phong cảnh bên dưới. Những hiểu biết về cuộc sống: Chỉ có vượt qua khó khăn, chúng ta mới có thể đạt đến đỉnh cao của chiến thắng.

        =>Hình ảnh người chiến sĩ cộng sản đứng trên đỉnh cao của chiến thắng, qua đó thể hiện nghị lực, sự lạc quan, yêu đời dù đường đi có gian khổ, nhưng tay chân bị xiềng xích.

        Bài 3: Nghệ thuật

        • Thơ tứ bình giản dị, súc tích
        • Liên tưởng sâu sắc, thể hiện tư tưởng của tác giả.
        • c.Kết luận:

          • Nhắc lại nội dung tác phẩm: Bài thơ “Đi đường” thể hiện nghị lực, ý chí, tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh vượt lên trên mọi hoàn cảnh.
          • Liên hệ, đánh giá tác phẩm: Qua những bài thơ này, chúng ta càng hiểu thêm về những phẩm chất cao đẹp của con người, từ đó nhắc nhở mỗi thanh niên Việt Nam phải học tập và thi đua theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
          • Phân tích bài thơ Đi đường – Văn mẫu 1

            Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu nhất của nhân dân Việt Nam ta. Ông không chỉ là nhà cách mạng xuất sắc mà còn là nhà thơ tài hoa. Sự nghiệp sáng tác của ông lúc sinh thời cũng vô cùng nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là tập thơ “Nhật ký trong tù”. Tuyển tập gồm hai mươi bài thơ được hoàn thành bởi những người bị giam cầm trong ngục đá của thế giới tư tưởng. Trong đó, Đi đường là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất, ca ngợi hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong gian khổ.

            Bài thơ này ra đời trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, đó là Hồ Chí Minh bị bắt, bị giam trong nhà tù tư tưởng và bị chuyển từ nhà tù này sang nhà tù khác. Trong hoàn cảnh đó, khó khăn, gian khổ, cực khổ có thể làm chùn bước người tù, nhưng anh ta có tấm lòng yêu thương và tinh thần chiến đấu kiên cường, không những không bỏ cuộc mà còn dùng lời văn thơ. Hồ sơ trung thực của riêng tôi ghi lại những tình huống khó khăn đồng thời thúc đẩy ý chí của anh ấy. Ông muốn dùng nó để khắc họa ý chí bất khuất của người tù binh cách mạng trong hoàn cảnh khó khăn, đồng thời cũng thể hiện triết lý muôn thuở “vượt qua mọi khó khăn thử thách, nhất định sẽ giành được thắng lợi vẻ vang”.

            Đây vẫn là thể thơ ưa thích của Đường Thất Tứ, với bài thơ “Đi đường”, Hồ Chí Minh đã dùng bức tranh tâm lý của chính mình để vẽ nên một bức tranh hiện thực:

            “Thể tài, lộ thân

            Thơ đã dịch:

            “Có đi trên đường mới biết núi cao đến đâu, đến cuối núi mới thấy mắt ngàn non”

            Câu đầu của bài thơ này như mở đầu cho bài phê bình, là những suy ngẫm về hiện thực cuộc sống:

            “Thiển tài, thoát gian nan” (đi đường gian nan biết mấy)

            Để có được suy nghĩ và sự thật như vậy, chắc hẳn tôi đã phải trải qua rất nhiều khó khăn và nhiều con đường trong quá trình chuyển trại và trại lao động. Nhiều lần bị địch đày hết nhà tù này đến nhà tù khác, tôi mới thấu hiểu nỗi gian khổ trên mỗi bước đường. Mỗi lần bước đi, xiềng xích, còng lại kéo lê bước chân người tù cách mạng càng khó khăn hơn. Biết được điều này, anh đã viết những dòng mở đầu cho bài thơ “Thoát khỏi”. Khi tôi đọc nó, tôi cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc và những khó khăn trong văn bản. Từ “thoát xác” xuất hiện liên tiếp trong cùng một câu thơ, chẳng phải nhấn mạnh rằng con đường còn dài dằng dặc khiến con người ta kiệt quệ về thể xác lẫn tinh thần hay sao? .

            Bằng một bài thơ ngắn, Hồ Chí Minh đã miêu tả cho chúng ta những khúc quanh, những khó khăn, những trải nghiệm của một người tù trên con đường gập ghềnh. Nó cũng nhắc nhở chúng ta rằng: Trong cuộc sống, chúng ta phải bắt tay vào làm việc, và chúng ta phải “thoát ly” để trải nghiệm những mệt mỏi trong công việc.

            Câu đầu tiên vang lên khiến người đọc bồi hồi, xúc động trước những gian khổ mà Người đã trải qua trong chốn lao tù. Tuy nhiên, khi đọc to câu thơ thứ hai, chúng tôi mới hiểu rõ hơn những khó khăn đó:

            “Con bọ kỳ lạ” (Núi khác rồi núi khác)

            Ở bước chuyển mình ấy, anh không chỉ phải “ăn gió tắm sương” mà còn băng rừng, vượt suối, trải qua muôn vàn gian khổ trên con đường gập ghềnh. Nhưng những khó khăn này không là gì so với leo núi và rặng núi. Với đôi chân bị xiềng xích, anh phải lê đôi chân của mình để leo lên những đỉnh núi cao chót vót đó, không phải từng người một mà từng người một, nối tiếp nhau hiện ra trước mắt. “Sông Sơn” (núi cao), các “núi ngoại côn trùng” liên tục trên đỉnh mỗi ngọn núi. Từ “đồng” xuất hiện lặp đi lặp lại trong câu, một ở đầu và một ở cuối, khiến ta có cảm giác như núi non trập trùng trước mặt, tưởng như không có điểm dừng.

            Người đi bộ bình thường đi lại khó khăn, nhưng chú của chúng tôi, trên vai mang xiềng xích và xiềng xích, phải đi bộ từ con đường gồ ghề này sang con đường gồ ghề khác, và trèo qua những ngọn núi. Đi hết ngọn núi này đến ngọn núi khác quả thực là khó khăn, vô cùng khó khăn, những đỉnh cao liên miên, những thăng trầm mà con người đi qua chẳng phải cũng là biểu tượng cho những khó khăn mà cách mạng phải đối mặt hay sao? Phải chăng những khó khăn, thử thách đó đòi hỏi người cách mạng phải có ý chí kiên cường vượt qua và giành thắng lợi vẻ vang?

            Kết thúc hai câu đầu ta thấy con đường dài thênh thang, núi đồi nhấp nhô, vô tận. Người tù chiến tranh cách mạng của Hồ Chí Minh chuyển sang nhà tù, nghĩ rằng thế giới rất khó khăn và đau khổ. Những khó khăn mà anh nêu, núi cao đường xa, đường đi lại khó khăn, ý chí của một người tù cách mạng yêu nước bị thử thách trong cuộc sống trước thành công cuối cùng?

            Hai câu thơ cuối, vẫn là hình ảnh núi non nhưng câu thơ đã mang những sắc thái rất khác. Nếu như ở hai câu đầu, ta có thể tìm thấy những gian khổ, gian khổ và những suy ngẫm về cuộc đời của những người tù chiến tranh cách mạng của Hồ Chí Minh, thì ở câu này, chúng ta sẽ cảm nhận được một hương vị khác:

            “Không thể tình cờ trở thành một trình tạo hậu hợp lệ nâng cao”

            Thơ đã dịch:

            (Ngắm ngàn thanh niên từ đỉnh núi)

            Hình ảnh núi non vẫn thấp thoáng nhưng không thể cản bước những người cách mạng với ý chí sắt đá, quyết tâm chinh phục đỉnh cao nhất. Nhịp thơ ở đây rất nhanh, rất dồn dập, thỉnh thoảng kèm theo tiếng thở dốc của người tù đang cố bước thật nhanh lên đỉnh đồi. Cảm giác khẩn trương ấy lan tỏa khắp câu thơ, từng chữ mạnh mẽ hơn, gấp gáp hơn, gấp gáp hơn:

            “Cao phong khẩu” (núi cao đến đáy)

            Đọc đến cuối bài thơ, ta thấy nhịp thơ chứa đựng niềm hân hoan, xao xuyến khi chinh phục được “đỉnh núi cao”, “điểm cuối”. Đến đoạn cuối, người tù hít một hơi thật sâu và vô cùng sảng khoái:

            “Ngàn Bạch Hạc Muốn Lừa” (thu vào trong mắt ngàn con)

            Ở khổ thơ thứ ba, người đọc như nghe thấy cả tiếng thở của mình, vậy có ai trong chúng ta tự hỏi mình đã lên đến đỉnh núi chưa, đã đến “tận cùng” chưa,…? Cho đến khi quý 4 ra mắt với sự thở phào nhẹ nhõm, độc giả của chúng tôi cũng sẽ vô cùng thư thái và sảng khoái. Đến “tận cùng” đỉnh núi, những gì chúng tôi thấy trước mắt là một không gian “nước non vạn loại” đồ sộ, bao la và vô tận.

            Nếu như ở hai câu đầu, khi đọc bài thơ, người đọc dường như cảm nhận được những gian nan, vất vả, một nỗi nhớ da diết đối với Hồ Chí Minh, thì ở hai câu cuối, tình thế chuyển biến đột ngột, tâm trạng thay đổi đột ngột. cũng mang một màu sắc tươi vui khác thường. Hồ Chí Minh bỗng đứng trong tư cách của một người tự do từ một tù nhân bị tra tấn, không còn bị trói buộc, hành hạ mà chỉ là một cảm giác vui sướng. thế giới. Và từ sâu thẳm tâm hồn của những người cổ vũ. Câu thứ tư thốt lên một tiếng reo vui. Trải qua muôn vàn gian khổ, cuối cùng người tù cách mạng đã leo lên đến đỉnh của thiên nhiên và được tận mắt chứng kiến ​​thiên nhiên mà mình vô cùng nâng niu, yêu quý. Đây hẳn cũng là thông điệp sâu sắc mà những người đi trên con đường cách mạng gửi gắm: Con đường cách mạng chắc chắn có khó khăn, có núi đồi, thử thách, nhưng khi đã đến đỉnh cao, nhất định chúng ta sẽ đạt được điều gì đó. Thành công rực rỡ, xứng đáng. Muốn vậy, chúng ta phải củng cố ý chí, củng cố niềm tin, tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng.

            Bài thơ Vượt ngục (đi đường) đã kết thúc nhưng đọng lại trong tâm trí chúng ta là hình ảnh người tù cách mạng đã trải qua gian khổ, kiên trung. Bài thơ này không chỉ thể hiện nỗi khổ của ông trong tù, mà còn là cảm xúc thật của ông sau khi thiền định. Con đường ấy gian nan, gập ghềnh như cuộc đời, như con đường cách mạng, nhưng chỉ cần chúng ta có quyết tâm, ý chí sắt đá thì thắng lợi vẻ vang nhất định sẽ đến, và ngày ấy không còn xa. . .

            Bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt được ghi vào đời Đường, Hồ Chí Minh đã cho chúng ta cảm nhận được những năm tháng gian khổ bị giam cầm nơi đất khách quê người, đồng thời cũng ca ngợi lòng kiên trung, tinh thần đấu tranh của Hồ Chí Minh. chí minh.Tất nhiên, mãi về sau, bài thơ này mãi là một trong những kiệt tác của Hồ Chí Minh: Người chiến sĩ cách mạng – Nhà thơ kiệt xuất của dân tộc ta.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Ví dụ 2

            Bị bắt vì tình nghi làm gián điệp, Bác Hồ đã bị đưa đến các nhà tù ở một số tỉnh của Trung Quốc trong những ngày bị chính quyền giam giữ. Ra đời trong hoàn cảnh như vậy, nhiều bài thơ trong tập “Nhật ký trong tù” đều có nhan đề là “Vượt ngục” lên đường, một bài thơ như thế. và đúng:

            Thể tài, định nan (đi đường gian nan biết mấy)

            Đúng là chỉ có đi trên đường mới biết được những thăng trầm, gian khổ của con đường đó, và chỉ những ai đã từng trải qua mới biết được những gian nan. Hơn nữa, chặng đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh được hộ tống không hề dễ dàng, có nhiều hang voi, ổ chuột, nơi những người đi chân trần, đầu trần, bị trói và canh giữ. Đây không phải là một con đường dễ dàng. Sự xuất hiện lặp đi lặp lại của từ “bội bạc” trong cùng một dòng thơ càng làm cho bài thơ ghi dấu ấn sâu đậm hơn trong lòng người đọc. Trong câu sau, anh mô tả cụ thể khó khăn đó:

            Giun kim tuyến trùng bất thường trong gió cực mạnh (núi cao xuống núi; núi cao xuống dưới)

            Đến đây, ta hiểu rằng con đường mà nhà thơ phải đi qua không chỉ là đường gập ghềnh, mà còn là đèo dốc, vừa gian nan vừa nguy hiểm. Từ “cùng” được lặp lại nhiều lần tạo cho người ta cảm giác núi cao trùng điệp, từ núi này sang núi khác, đi, đi, đi mãi không dứt. Tại thời điểm đó, một dãy núi khác xuất hiện và chúng tôi phải vượt qua nó một lần nữa.

            Nếu trong câu trên núi được mở theo chiều rộng thì câu dưới núi được mở theo chiều cao. Núi không những nhiều, rộng mà tứ phía đều sừng sững, sừng sững, cực kỳ khó vượt qua. Nhìn vào hoàn cảnh của những người tù cách mạng lúc bấy giờ, quả là khó khăn gấp bội.

            Ba câu trên đều nói về những gian nan trên đường đi, có thể chúng ta lầm tưởng rằng nhà thơ đã mệt mỏi, mỏi mệt, nản lòng trên con đường gian nan đó, nhưng nếu đúng như vậy thì đó không phải là phong cách của Hồ Chủ tịch Chí Minh. Tất cả ánh sáng như dồn về cuối bài thơ:

            Fan Li muốn lừa dối mọi người

            Mặc dù ở ba câu thơ trên ta cảm nhận được sự gian nan, vất vả của cuộc hành trình nhưng khi bước sang câu thơ tiếp theo, dường như mọi khó khăn trở ngại đã tan biến, chỉ còn lại khung cảnh thiên nhiên. Thiên nhiên tươi đẹp muôn loài non nước, không còn là hình ảnh người tù bị dẫn giải mà là hình ảnh người du khách đứng giữa nhân gian và hưởng thụ thành quả của cuộc hành trình.

            Ba câu đầu, hình ảnh thiên nhiên dù choáng ngợp đến đâu thì ở câu cuối, con người không còn nhỏ bé, sợ hãi trước thiên nhiên mà trở nên cao lớn, mạnh dạn, kiêu hãnh. Đây cũng chính là tinh thần lạc quan, yêu thiên nhiên của những chiến sĩ cách mạng vĩ đại không bao giờ mất niềm tin vào cuộc sống.

            Cả bài thơ đưa ra một triết lý sâu sắc: con đường gian nan nhưng nếu dũng cảm vượt qua thì cuối con đường sẽ gặt hái được vẻ đẹp. Theo nghĩa rộng, đây là con đường cách mạng, con đường sống, con đường nào cũng gian nan, khó khăn nhưng khi chúng ta vượt qua sẽ đạt được kết quả như ý muốn.

            Thơ bảy chữ ngắn gọn hàm chứa triết lý sâu sắc, cho ta thấy chúng ta vô cùng khâm phục hào quang chói lọi của Bác Hồ. Chính tinh thần sắt đá này đã giúp anh trở nên mạnh mẽ hơn trong bất kỳ môi trường khắc nghiệt nào.

            Phân tích bài thơ “Đi đường”——Ví dụ 3

            Đi đường là một bài thơ trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh. Bài thơ này được tạo ra trong quá trình di chuyển từ nhà tù này sang nhà tù khác, nhưng thay vì nhìn thấy những khó khăn và gian khổ giữa các phòng tuyến, chúng ta lại thấy một sự thật khi gặp những khó khăn nhất định, và vinh quang cuối cùng sẽ thành hiện thực. Ý nghĩa sâu xa tạo nên giá trị thơ ca là ở đó.

            Trong thời gian bị cầm tù ở Trung Quốc, ông đã đi hơn 30 nhà tù khác nhau, khi trèo đèo lội suối, khi mưu sinh, khi vượt sông băng rừng, ông vẫn giữ một tinh thần lạc quan. .Bài thơ này, cũng như nhiều bài khác, là lời tự nhắc nhở, động viên con người vượt qua khó khăn gian khổ.

            Mở đầu bài thơ nói về nỗi vất vả của người đi đường: phát tài và những nguy hiểm tiềm ẩn. Điệp ngữ gốc “tiều lộ” được lặp lại hai lần nhấn mạnh sự gian nan, vất vả của cuộc hành trình. Những khó khăn này biến thành thơ đơn giản và không trang trí.

            Có lẽ trong những năm tháng đấu tranh, đọc thơ của anh, bạn sẽ thực sự cảm nhận được những gian khổ mà người dân phải trải qua trên đất khách quê người. Sự “cộng sinh phi thường” của những ngọn núi trập trùng cứ hiện ra, tưởng như không có điểm đầu, không có điểm kết thúc, liên tục tạo nên những thử thách, thử thách sự ngoan cường, bền bỉ của những người tù cách mạng. ..

            Vạn dặm không có lối đi, chỉ có đôi chân không ngừng tiến lên, con đường gian nan, nguy hiểm mới thể hiện hết những gian khổ, gian khổ mà người chiến sĩ cách mạng đã phải chịu đựng. Phải có quyết tâm vượt qua và ý chí kiên cường. Trải qua những gian khổ ấy, chúng ta sẽ gặt hái được những điều tốt đẹp nhất, thuần khiết nhất:

            dong san dang cao phong hau van ly thật muốn ăn gian

            Nếu như ở hai câu thơ đầu nêu bật những khó khăn, gian khổ mà người quản ngục phải đối mặt thì ở câu thơ thứ ba người quản ngục đã chinh phục được đỉnh cao đó. Trên hành trình chinh phục các thử thách, đây là thời khắc vui vẻ và hạnh phúc nhất của người quản ngục.

            Bạn đã trải qua bao khó khăn và được đền đáp xứng đáng, đó là bao nhiêu nước non tích tụ trong mắt. Một không gian rộng lớn, khoáng đạt hiện ra trước mắt người tù, đồng thời mở ra một chiều kích có ý nghĩa sâu sắc: Hoạt động cách mạng chắc chắn sẽ gặp nhiều gian nan, thử thách, nhưng chỉ cần có lòng kiên nhẫn, bền chí thì không sao”. Không lùi một bước, bạn nhất định sẽ thắng.

            Với ngôn ngữ thơ giản dị, ông cô đọng hai tầng ý nghĩa sâu xa và mang đến triết lý sâu sắc cho người đọc. Quá trình hoạt động cách mạng hay đường đời sẽ gặp nhiều chông gai, sóng gió, chúng ta không nên mềm lòng, nản lòng mà phải dũng cảm, mạnh mẽ vượt qua những thử thách ấy. Ánh sáng và vinh quang hẳn đang đợi chúng ta ở cuối con đường.

            Phân tích bài thơ “Đi đường”——Ví dụ 4

            Bài thơ lên ​​đường (vượt ngục) trích từ Nhật kí trong tù. Tôi thích một số bài cùng chủ đề, chẳng hạn như Từ Long An đến Đông Chính, đến Nam Ninh, sớm ổn định, lên đường, chiều tối, trong bài thơ này, tôi cũng ghi lại cảm xúc của mình trên đường đi, điểm khác biệt là bài này cảm giác đã được khái quát hóa và phát huy như một triết lý. Vì vậy, ngoài ý nghĩa chân thực, bài thơ này còn hàm chứa ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Ông đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tráng lệ bằng tài năng của một nghệ sĩ, trên bối cảnh hùng vĩ, ông làm nổi bật tư thế hiên ngang, tinh thần lạc quan vượt khó của người lính. Tin tưởng vào tương lai tươi sáng của cách mạng:

            Lộ tài, mưu phản, xâm phạm, xâm phạm;

            Đã dịch thành thơ tiếng Việt:

            Có đi trên đường mới biết gian nan, núi cao như cao;

            Bài thơ nguyên tác chữ Hán, thất ngôn tứ câu (bảy chữ bốn câu). Tính ngắn gọn, niêm luật chặt chẽ của thơ Đường không thể kìm hãm được những dòng thơ tự do thoải mái của nhà thơ, cũng như không thể kìm hãm được những cảm xúc phong phú của nhà thơ. Bản dịch lục bát tuy đã làm dịu đi đôi chút giọng điệu chắc khỏe vốn có của nguyên tác nhưng vẫn thể hiện được nội hàm tư tưởng và giá trị nghệ thuật của bài thơ.

            Lời mở đầu là đánh giá chung của bạn về chuyến đi:

            Thể tài, định nan (đi đường gian nan biết mấy)

            Đây không phải là đánh giá chủ quan sau một vài chuyến đi thông thường, mà là đúc kết từ thực tế của hành trình gian nan mà bạn phải trải qua. Trong mười bốn tháng bị chính quyền giam giữ phi pháp, Bác Hồ thường xuyên bị đưa đến các nhà tù ở mười ba huyện của Quảng Tây. Tay bị còng, chân bị xích, họ bước đi trong gió lạnh và sương giá, hay dưới cái nắng như thiêu đốt giữa trưa. Vượt dốc, vượt đèo, lội suối, những khó khăn, thử thách đôi khi tưởng chừng như quá sức. Tác giả khái quát câu chuyện về con đường dựa trên thực tế này.

            Câu thứ hai biến những gian khổ trên đường thành hình ảnh:

            Ngực san lạ chi (núi cũng cao núi cao)

            Trong khung cảnh thiên nhiên chỉ có núi rừng, con người yếu ớt lại càng nhỏ bé hơn. Đường còn dài, vực thẳm vạn dặm, dốc cao, chông gai thử thách dễ làm con người ta chán nản, nhụt chí. Vì mới vượt qua núi đồi nên sức lực tinh thần và vật chất đều cạn kiệt, mọi người tưởng đã thoát nạn, nào ngờ núi cao sừng sững trước mặt. Trong thơ chữ Hán có một chữ huơu, bản dịch lại càng ác hơn: trước là núi cao, sau là núi cao như núi.

            Thật khó nói! Cấu trúc khép kín (chong san chi exi juu san) trong vần chữ Hán được chuyển thành cấu trúc trùng điệp tăng dần, nửa sau được tăng thêm bằng các trùng điệp ở cuối, cấu trúc khép kín tăng tiến. Nó như đẩy con người ta vào chỗ ba bề bốn bề là núi rừng, không sao thoát ra được, chỉ biết mệt mỏi, nản lòng và bỏ cuộc.

            Nhưng đối với tôi thì ngược lại:

            cong san dang cao phong hau van ly vẫn đang cố gắng lừa đảo.

            (Núi cao đến tận cùng, nhìn núi xanh nghìn sông.)

            Giữa núi non trập trùng và sự hoang vắng ngột ngạt, có một điểm sáng, một điểm lay động, một con người bề ngoài nhỏ bé, yếu đuối nhưng bên trong là một nghị lực và sức mạnh phi thường.

            Phần trước kết thúc bằng cùng một hình ảnh và phần tiếp theo bắt đầu bằng cùng một hình ảnh. Đây không phải là trường hợp trong bản dịch của bài thơ, trong đó lặp đi lặp lại “Gaoshan … Gaoshan … giọng điệu đó nâng con người lên một vị trí tưởng chừng bình thường nhưng rất anh hùng”. Bước lên ngọn núi cao này, bước lên ngọn núi cao khác, giống như bước lên một bậc thang, từ từ leo lên đỉnh cao hùng vĩ. Vần của chữ Hán dừng lại trên âm thực của chữ đăng, tạo nên âm thanh chắc, khỏe. Giai điệu của bản dịch như một tiếng thở dài ngây ngất: núi đã tàn.

            Xem thêm: Cuộn cảm là gì? Một số ký hiệu cuộn cảm ít thấy

            Cho đến nay, mọi khó khăn, gian khổ đã qua và kết quả là những phần thưởng xứng đáng mở ra. Xưa vách núi cao trước mặt, chỉ có đá và cây, nay nhìn quanh đâu đâu cũng thấy nước non ngàn khơi. Leo đến cùng, đứng trên ngọn núi (đỉnh) cao nhất, nhìn ra xa, không chỉ có tầm nhìn rộng, tâm rộng, nhân sinh rộng. Con người đã trải qua muôn vàn gian khổ và cuối cùng đã đến đích. Giọng thơ cuối vang lên, thể hiện niềm lạc quan vô hạn về một tương lai tươi sáng. Khung cảnh hàng ngàn con bọ nước non lúc này thu nhỏ lại trong mắt tôi. Bài thơ kết thúc trong niềm hân hoan, tự hào vô cùng đó.

            Có phải bài thơ này chỉ nói về du lịch không? Đi trên đường không chỉ có núi cao, đường đi nguy hiểm mà còn có muôn vàn khó khăn trở ngại. Hình ảnh núi cao trùng điệp tượng trưng cho muôn vàn khó khăn, nguy hiểm mà con người thường gặp phải trong cuộc sống. Vì vậy, con đường ở đây không phải là con đường của trái đất, mà là con đường sống, con đường cách mạng.

            Có ai trong đời chỉ gặp thuận buồm xuôi gió và tiến thẳng đến chiến thắng và thành công? Chướng ngại vật và nguy hiểm là thứ tự trong ngày. Để vượt qua tất cả, bạn phải có một ý chí mạnh mẽ, sức mạnh nội tâm phi thường và niềm tin không lay chuyển. Chỉ bằng cách này chúng ta mới có thể giành chiến thắng. Để vượt qua gian khổ nguy hiểm, quan trọng nhất là vượt qua chính mình.

            Nếu con đường đó là con đường cách mạng thì chân lý tất yếu nói trên sẽ sáng tỏ hơn. Cuộc đời đấu tranh và hy sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời. Trên con đường cách mạng đầy chông gai, sóng gió, bằng trí tuệ chói lọi, ý chí và nghị lực to lớn, Người đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi đến đỉnh cao của thời đại vẻ vang Việt Nam. Từ một chuyến đi đường tưởng chừng như trần tục, Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản lão thành, đã dạy cho chúng ta một bài học cuộc sống thiết thực và bổ ích.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Ví dụ 5

            m.gok-ki từng nói “Người lạ ơi!”. Con người sống và khẳng định sự tồn tại của mình bằng chính ý chí, nghị lực và trái tim lớn của mình. Đường đời đầy gian nan thử thách là ngọn lửa thử vàng cho nó thêm chói lọi. Trong Nhật ký trong tù, chúng tôi luôn gặp những người như thế này. Bài thơ “Đi đường” cũng giống như các bài thơ chuyển cảnh khác như: Đi Nam Ninh, Chiều tối, Ra đi sớm,… Nó không chỉ thể hiện nỗi khổ cực của người tù trên đường đến nhà ngục mà quan trọng hơn, nó thể hiện một thái độ. Hành trình triết học cuộc đời thử thách và phong thái trưởng thành.

            Câu đầu tiên bạn đặc biệt nói về du lịch. Nhưng đây không phải là tiếng thở dài của một người đã trải qua quá nhiều biến đổi, mà là lời khẳng định, suy nghĩ bằng trải nghiệm cay đắng của người qua đường:

            <3

            Câu thơ như triết lý của người từng trải. Đi trên đường, phải nếm trải gian khổ trên đường, mới hiểu gian nan, biết gian khổ là gì. Bài học này không có gì mới, nhưng nó phải được thử thách và trải nghiệm trực tiếp để có được cái nhìn sâu sắc như vậy. Một bài thơ đơn giản với một sự thật hiển nhiên. “San côn trùng ngoại sinh Circuminta”. Từ “tương ứng” như mở ra trước mắt người đọc một con đường núi non hiểm trở, nhấn mạnh rằng nó dài vô tận, hết lớp núi này đến lớp núi khác không có điểm kết thúc. Con đường ấy, như đối lập, vắt kiệt sức lực con người. Phải đi qua loại đường này mới hiểu được cái lý tưởng tưởng chừng như đơn giản “đi đường nào biết gian nan” mà bác đã nói ở đoạn đầu.

            Hai câu thơ chỉ nói về gian khổ của người đi đường chứ không miêu tả trực tiếp hình ảnh người đi đường. Nhưng chúng ta vẫn thấy hình ảnh người đi đường xuất hiện. Con người ở đây không phải trong trạng thái thảnh thơi ngồi ngắm núi non trập trùng xa xa, họ không phải là khách lữ hành đi ngắm núi non sông nước mây trời mà là những tù nhân trên con đường lao tù. Với gông cùm trên vai, xiềng xích dưới chân, đói khát đến mức phải trèo qua bao đèo, dốc sâu, vực thẳm, băng qua những con đường núi cheo leo. Từ “hu” ở giữa hai câu không chỉ là hình ảnh ẩn dụ cho cảnh sông núi trùng điệp mà còn là hình ảnh ẩn dụ cho sự gian khổ của người tù. Con đường này chưa đi hết, con đường núi khác đã hiện ra trước mắt, khó khăn này chưa vượt qua thì khó khăn khác lại chặn đường. Tuy nhiên, bài thơ này không phải là lời cảm thán, không phải là lời than thở của người qua đường mà là sự miêu tả chân thực về người chiến sĩ cách mạng trên con đường lao động và hoạt động cách mạng.

            Hai câu thơ tiếp theo khiến người đọc bất ngờ. Nếu hai câu đầu đúng thì hai câu sau đột ngột tăng nhẹ:

            “Ngắm nước non ngàn cuối núi”

            Câu thứ ba tiếp tục tả núi. Không chỉ dừng lại ở những ngọn núi cao, mà con đường đã đẩy đến “tận cùng” vô cùng khó khăn. Câu thơ này dường như là tiếng reo vui của người tù khi vượt qua muôn ngàn ngọn núi và lên đến đỉnh cao nhất. Ở đây, dường như chúng ta đã bắt gặp một chủ đề quen thuộc: trí cao và thái độ vũ trụ của con người: trí cao, nhìn xa. Khi lên đến đỉnh núi cũng là lúc con người có thể phóng tầm mắt ra xung quanh và bao quát cả một không gian bao la, như thể mình đã làm chủ cả vũ trụ. Mọi người đang ở tư thế của một người chiến thắng. Con người được tạo hóa một cách tự nhiên trong vũ trụ bao la, với dáng vẻ kiêu hãnh, giống như một du khách thong dong dạo chơi giữa không trung. Ở vị trí ấy, người ta như “tôn tiên”. Những gian khổ của cuộc hành trình không thể giam cầm những người đàn ông trong núi. Mọi người dường như đang cố gắng làm chủ con đường của chính mình.

            “Thấy hàng ngàn ấu trùng bọ nước”. Khổ thơ cuối là cao trào cảm xúc. Có một người vượt qua muôn vàn khó khăn trở ngại mới có thể tận hưởng niềm vui khôn tả được thưởng ngoạn cảnh đẹp non nước mây trời. Dường như mọi khó khăn đã qua đi, chỉ còn lại một người điều khiển thế giới tự nhiên với một thái độ thoải mái và lạc quan. Ở đây, trời, đất và con người hòa làm một. Bài thơ bay bổng trong cảm hứng lãng mạn.

            Trên Đường là một bài thơ ngắn với những bài học lớn về con đường thực từ nhà tù này sang nhà tù khác trong những năm tháng bị giam cầm. Nhưng quan trọng nhất, nó không chỉ là một con đường núi gồ ghề. Đây cũng là con đường đầy chông gai và thử thách. Những khó khăn này không thể níu chân mọi người. Thơ là niềm tin như thép. Đường đời dù có chông gai, trắc trở đến đâu, chỉ cần kiên trì, chịu đựng, quyết tâm vượt qua thì cuối cùng cũng sẽ đến đích. Rồi con người sẽ đạt đến đỉnh cao của vinh quang, của trí tuệ và nắm bắt được giá trị đích thực của cuộc sống.

            Bài thơ “Đi đường – Con đường” không chỉ là bản đồ đường đi đầy gian khổ, trắc trở mà còn là bức chân dung tự họa của Hồ Chí Minh. Từ bài thơ, người đọc cảm nhận được hình ảnh Bác Hồ không chỉ có sự điềm đạm của một người tiên phong trong tôn giáo mà còn có sự kiên cường lạc quan, mạnh mẽ của một chiến sĩ cách mạng. Vì vậy, bài thơ Đi đường quả thực là một bông hoa quý của nền văn học Việt Nam, cùng với nhiều bài thơ khác trong tập Nhật kí trong tù.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Ví dụ 6

            Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh là một tác phẩm văn học có giá trị và là một tác phẩm quý trong kho tàng văn học Việt Nam. Nhiều câu thơ trong Nhật ký trong tù thể hiện nhân sinh quan đúng đắn và trở thành bài học quý giá cho mọi người. Bài thơ “Đi đường” là một ví dụ điển hình. Đọc bài thơ “Đi đường” của anh lại thêm một bài học quý giá trong cuộc sống.

            Có đi trên đường mới biết gian nan, núi cao như cao;

            Trước hết, hình ảnh con đường trong bài thơ là vỉa hè. Đường lên núi gian nan, vất vả, gian nan. Sau khi vượt qua ngọn núi này, người ta phải leo lên một ngọn núi cao hơn, và các đỉnh núi nối tiếp nhau. Nhưng khi đã lên đến đỉnh núi cao nhất, có thể nhìn bao quát xung quanh thì mọi khó khăn sẽ trở nên vô cùng nhỏ bé.

            Hình ảnh con đường trong bài thơ hàm chứa ý nghĩa sâu sắc. Con đường đó là cuộc sống. Cuộc sống đầy gian nan, vất vả. Nếu bạn có quyết tâm và kiên trì vượt qua thử thách, chắc chắn bạn sẽ đạt được kết quả tốt.

            Bài thơ này thể hiện một chân lý giản dị mà sâu sắc, không phải ai cũng làm được. Khó khăn phát sinh trong cuộc sống, và mọi người cần phải giải quyết chúng. Nó là thước đo sự gan góc và quyết tâm của mỗi cá nhân. Chỉ có chăm chỉ và rèn luyện mới có thể mong đợi kết quả cuối cùng.

            Bác Ông cũng có nhiều câu thơ, nói về những thử thách của cuộc sống, qua đó củng cố ý chí, quyết tâm của con người:

            Gạo khi giã thì đau trong bao, giã xong thì gạo trắng như bông.

            Bài thơ “Đi bộ ngao du” thể hiện chí khí và chí khí của Bác Hồ. Thật vậy, bài thơ “Đi đường” không còn là cuộc du hành của riêng bạn mà là cuộc du hành của mọi người.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Văn mẫu 7

            Bài thơ “Đi đường” có tựa đề là các cụm từ, thể hiện một kiểu hệ thống. Vì vậy, bài thơ này có ý nghĩa riêng, ngoài việc thể hiện tình cảm trước cảnh núi non hùng vĩ, trời cao, nó còn thể hiện thái độ sống tích cực của nhà thơ, chiến sĩ. Bài thơ gồm bốn câu thơ thất ngôn, dịch lục bát:

            “Vừa lên đường mới biết, núi cao đến đâu, đến cuối núi, đều có thể nhìn thấy ánh mắt của ngàn thanh niên.”

            Mở đầu bằng một câu thơ đơn giản, gần giống như một bài diễn văn bình thường:

            “Đường đi khó biết”.

            “Đi trên đường”, hai từ đơn giản nhưng chứa đựng quá nhiều ý nghĩa. Đầu tiên, ý nghĩa cụ thể của nó. Nói “lên đường” thực ra là bị đưa lên đường, bị đày ải. Dù ông không nói, không miêu tả, nhưng chúng ta hôm nay đọc thơ ông không khỏi đặt nó vào hoàn cảnh đói nghèo, lam lũ nắng mưa giày xéo của ông. .Mang dép rách, 53 cây số một ngày, tay bị trói, cổ bị xích. Tuy nhiên, câu thơ được lặp lại dường như chỉ là một nhận xét, một kết luận bình thường. Từ “lần đầu làm quen” nghe nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng chất chứa biết bao thăng trầm trong cuộc sống và biết bao tâm tư của người trong cuộc. Vì vậy, câu đầu của bài Đi đường không chỉ là lời tóm tắt một chặng đường cụ thể mà còn hàm chứa thái độ đánh giá, nhận thức tư tưởng trong suốt chặng đường dài của cuộc đời. nói chung, cụ thể về con đường cách mạng. Như vậy, đoạn thơ vừa có nội dung cụ thể, vừa có nội dung khái quát.

            Đằng sau những câu thơ, ta thấy một tâm hồn cao cả, cao đẹp, một tâm hồn nhạy bén của một người dũng cảm, trước khó khăn gian khổ vẫn biết vượt qua bằng một phong thái bậc thầy, một phong thái điềm tĩnh, rõ ràng, tỉnh táo Và một cái nhìn khiêm tốn.

            Phần hai:

            “Lại là núi cao”.

            Trước hết, đây là một bài thơ hiện thực, miêu tả núi non và thắng cảnh mà bạn phải vượt qua. Có ý kiến ​​cho rằng đây là những hình ảnh cụ thể về khổ thơ trong khổ thơ đầu, và có lẽ đúng như vậy. Nhưng như đã phân tích ở trên, câu đầu tiên của bài thơ không phải là sự giác ngộ mà là sự giác ngộ cuối cùng. Hơn nữa, trong câu thơ bớt đi sự cay đắng, thay vào đó là một không gian rộng rãi, trùng điệp, đẹp đẽ và hùng vĩ hơn.

            Tôi không thấy nơi đầy gông cùm, chỉ thấy một trái tim tự do đang thiền định, đang tận hưởng chất nghệ sĩ một cách hăng say. Điều này rất khó phân tích và giải thích bằng lý luận ngữ nghĩa. Từ linh hồn của nó đến linh hồn. Thưởng thơ như thưởng hoa. Đọc thơ người, đôi khi ta phải dừng lại, ngẫm nghĩ, thưởng thức âm vang của tâm hồn, phát ra từ những lớp ngôn từ, màu sắc, thanh âm… giản dị và trong sáng.

            Hai câu cuối:

            “Ngọn núi cao đến mức thu hút sự chú ý của hàng nghìn bạn trẻ.”

            Phong cảnh núi non nối tiếp nhau không dứt, như thể từng tầng từng lớp cảnh vật núi non được miêu tả trước mắt chúng ta, những gì bạn có thể nhìn thấy là thế giới rộng rãi cao vời vợi, cảnh sắc non sông tráng lệ. Khung cảnh được miêu tả trong bài thơ không giấu được tiếng kêu sung sướng trong lòng, hạnh phúc chân chính là khi con người đã trải qua muôn vàn gian khổ, đã đi và đã chạm tới, đã đứng trên đỉnh cao. . Trong khuôn khổ của âm điệu, hình ảnh, nhịp điệu của thơ cổ điển, các quy tắc, chuẩn mực và ý nghĩa của thơ dường như có xu hướng vượt lên, vượt lên trên cái bình thường và đạt đến cái cao cả. Những câu thơ này mang vẻ đẹp của một thiên nhiên vĩ đại và một tâm hồn vĩ đại. Nó không chỉ thể hiện sự cao cả của một cảnh núi non cụ thể mà còn thể hiện tầm nhìn cao cả, ý chí, nghị lực, niềm tin và những lí tưởng cao cả, đẹp đẽ. Vì vậy, khi có lý tưởng cao cả và lòng dũng cảm ngoan cường thì không có đỉnh cao nào là không thể vươn tới. Con người sẽ tìm thấy nguồn hạnh phúc vô tận. Kết luận về ý nghĩa của bài thơ đối với người đọc chỉ có vậy.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Văn mẫu 8

            Trong thời gian bị giam cầm, Hồ Chí Minh đã bị áp giải đến nhiều nhà tù. Theo Trần Dân Tiến, giữa các báo cáo về cuộc đời và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã bị giam giữ tại gần 30 nhà tù cấp huyện và cộng đồng. Du lịch là điều xảy ra hàng ngày.

            Giữa tiếng chim hót, hương hoa và cảnh sắc núi rừng, có một loại hành trình mà con người có thể đi thoải mái, nhưng hơn cả là một hành trình gian nan, băng qua giá rét và đường núi hiểm trở . Bài thơ “Đi đường” mở đầu hành trình bị áp giải: có đi đường mới biết gian khổ.

            Đây là kinh nghiệm của một người đã từng đến đây nhiều lần. Nếu bạn đang đi trên đường, bạn sẽ có kinh nghiệm về con đường. Đây không phải là một con đường bằng phẳng, mà là một con đường núi gồ ghề: núi là núi.

            Đi trên đường, tác giả hiểu rõ con đường gian nan của cuộc đời. Con đường đời này cũng là con đường đấu tranh cách mạng, và những người chiến sĩ cách mạng là những người đi không mệt mỏi. Chấp nhận khó khăn, vượt qua khó khăn, người qua đường luôn tiến về đích:

            Xé giày trên con đường lầy lội và đi một quãng đường dài

            Trong bài thơ “Đi đường”, những khó khăn thực sự chồng chất, chồng chất và lên đến đỉnh điểm. Câu thơ thách thức: núi đi đến đáy. Các chiến binh cách mạng đã vượt qua thử thách và chiến thắng. Đỉnh cao của chiến thắng thể hiện bao nhiêu niềm vui. May mắn là nhờ vượt qua khó khăn, làm tròn trách nhiệm được giao.

            Trên đỉnh núi, người ta có một cảm xúc đặc biệt: được thu vào tầm mắt của hàng ngàn Thanh Thủy. Nhiều lĩnh vực của cuộc sống có thể được quan sát và bao quát. Mắt không còn bị giới hạn trong trường nhìn mà được mở rộng để thu được nhiều cảnh.

            Đi đường là một bài thơ hay với nhiều tầng nghĩa, nghĩa đen và nghĩa bóng. Bài thơ này có ý nghĩa tổng kết kinh nghiệm, kinh nghiệm đi đường, kinh nghiệm đầu tiên của chặng đường cách mạng. Ở những câu đầu, thiên nhiên và núi non hiểm trở như đang che giấu con người. Nhưng rồi mọi người chủ động vượt qua thử thách và trở thành nhân vật trung tâm của bức tranh.

            Đường đời gian nan, cách mạng và đầy chông gai, nhưng nếu quyết tâm vượt qua khó khăn, theo đuổi đến cùng thì sẽ có ngày thành công và chiến thắng.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Văn mẫu 9

            Bài thơ “Đi bộ ngao du” trích từ tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh. Bối cảnh ra đời tác phẩm này là việc ông bị chính quyền bỏ tù vô cớ vào năm 1942, phải đày hết nhà tù này đến nhà tù khác, cuộc sống vô cùng khó khăn. Bài thơ này không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh núi rừng trên đường đi làm, mà còn chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc được ông đúc kết và nghiệm ra từ hoàn cảnh đặc biệt này: gian khổ cuối cùng cũng sẽ giành được thắng lợi rực rỡ. .

            Trước hết, bài thơ này là một truyện ngắn kể về hành trình tâm hồn của chú tôi trong những năm chú bị nhà ga bắt:

            <3

            Ký sinh trùng ngoại lai

            cao phong hầu giống như cấp ba

            Fan Li muốn lừa dối.

            Thơ đã dịch:

            Đi đường khó biết

            Alpine Alpine

            Cuối núi

            Hãy nhìn hàng nghìn con bọ nước non.

            Ngay đầu chương, nhà thơ đã đưa ra một bài học có tính chất nào đó: Đi đường mới biết đường gian nan. Đây không phải là nhận định chủ quan mà hoàn toàn xuất phát từ những tình huống thực tế mà bản thân đã trải qua.

            Vì trong hoàn cảnh ấy, hằng ngày Người thường bị áp giải hết nơi này đến nơi khác, đến nhà tù ở vùng khác của Quảng Tây, mà có lúc tưởng như không thể chịu nổi vì phải chịu nhiều đày ải. Cực đoan: “Tay bị trói, khuỷu tay bị xiềng xích, cổ bị xiềng xích…đi mãi, không biết đi về đâu.

            Mưa nắng, vượt núi…qua gần ba chục nhà ngục” (Trần dân Tiến). Như vậy, bài thơ được viết từ hiện thực trần trụi của một con người đã trải qua biết bao nhiêu là thử thách. Đồng thời, nhà thơ chỉ ra những gian nan, vất vả của con đường gian nan:

            Sâu ngoài (từ lớp núi này sang lớp núi khác)

            Với cấu trúc lặp “Qiao” (từ ngọn núi này sang ngọn núi khác) và “bạn” (lại) cho thấy cảnh núi non trùng điệp tầng tầng lớp lớp, bay xa không ngừng. Vượt qua những ngọn núi cao chót vót, những cánh cửa chớp tưởng chừng như đã hết khốn khó, nhưng những thử thách mới vẫn tiếp tục mở ra, chờ đợi phía trước.

            Vì vậy, từ “tri” câu trước vọng câu sau tạo nên chiều sâu suy ngẫm của nhà thơ: cảm nhận quá khứ, hành trình gian nan, bước tiếp. Đây là một hành trình không chỉ đòi hỏi sức khỏe bền bỉ mà còn là ý chí, sự kiên trì, tinh thần vượt khó phi thường. Cuối cùng, anh đã nỗ lực hết mình để vượt qua chính mình và chạm đến đỉnh cao của chiến thắng:

            cong san dang cao phong hau van ly vẫn đang cố gắng lừa đảo.

            Sau bao thử thách, gian nan, những con đường gập ghềnh, khúc khuỷu, gian nan đã bỏ lại phía sau, những người phượt thủ đã leo lên những đỉnh núi cao chót vót. Thủ pháp xếp chồng hai câu ba lần lượt ép từ “Chongsan” vào câu không chỉ thể hiện cảnh núi non trùng điệp mà còn khiến từng bước đi trở nên dễ dàng. Cao mười thước. Ngay sau đó, một đoàn người oai phong lẫm liệt, khí thế như thể dang tay khống chế vũ trụ:

            Hàng nghìn kẻ lừa đảo cố gắng gian lận.

            Khổ thơ cuối khắc họa thành công cử chỉ của người chiến thắng. Tất cả mọi thứ đột nhiên rơi vào mắt của người anh hùng. Công việc nặng nhọc trước đây đã biến mất, thay vào đó là niềm vui, hạnh phúc và thậm chí hòa mình vào khung cảnh thiên nhiên. Đó là đỉnh cao của chiến thắng, đỉnh cao của sự vượt qua chính mình trước khó khăn.

            “Đi đường” là một bài thơ có kết cấu chuẩn mực, cô đọng, súc tích theo trật tự tứ tuyệt (đề-cảnh-luận-kết), giọng điệu thay đổi linh hoạt: hai câu đầu là chắc chắn, chậm rãi mà đầy suy tư; câu từ tự do thoải mái, nhẹ nhàng thư thái… đều thể hiện thành công cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

            Bài thơ Đi đường không chỉ dừng lại ở việc nói về những gian nan của con đường, hình ảnh những ngọn núi trập trùng còn tượng trưng cho những gian khổ trên đường đời và đường cách mạng. Người chiến sĩ cách mạng phải trải qua muôn vàn gian khổ, thử thách nhưng khi đã nếm trải những trái đắng đó sẽ gặt hái được thành công, sẽ mang lại những chiến thắng vẻ vang.

            Cuộc sống cũng vậy. Khi con người vượt qua thử thách sẽ mang lại kết quả xứng đáng, tạo nên những giá trị tốt đẹp, bất diệt và thiêng liêng. Bài thơ “Đi đường” tuy ngắn gọn nhưng đồ sộ về quan niệm nghệ thuật, chứa đựng nhiều triết lí sâu sắc.

            Phân tích bài thơ “Đi đường”——Ví dụ 10

            “Bác khoác trên mình chiếc áo nâu giản dị, màu quê hương bền chặt trên người, bác sáng mãi trong tim em…”

            (có thể)

            Biết từng bước đi, đọc từng vần thơ của anh, chúng tôi thấy mình có thêm vốn sống, thêm nghị lực, thêm kiên nhẫn để vượt qua mọi khó khăn, vững tin vào kết quả công việc của mình. TÔI.

            Mùa thu năm 1942, Bác từ Bắc Bảo sang Trung Quốc tìm sự giúp đỡ của quốc tế cho cách mạng Việt Nam, thì bị Chính quyền tỉnh Quảng Tây bắt. Trong năm tháng sống trong tù, ông đã viết Nhật ký trong tù, gồm 133 bài thơ chữ Hán, với nhiều chủ đề khác nhau, nhằm động viên bản thân, trong đó có bài Đi đường (Vượt ngục).

            Bài thơ được viết bằng 4 thứ tiếng thất ngôn tứ chính, được nam nhà thơ dịch ra tiếng Việt thành 6 khổ thơ. Cũng nên biết rằng ông thường lấy những hình ảnh dễ thấy trong cuộc sống làm đề tài để bộc lộ tâm tư, tình cảm của mình. Ngay tựa đề bài Đi bộ trên đường cũng khẳng định luận điểm này.

            Từ hình ảnh cụ thể mà khái quát đó, nhà thơ Hồ Chí Minh đã viết một đoạn văn:

            Thể hiện tài năng,

            bản dịch của nam tren là:

            Xem thêm: Các trường Đại học khối D ở Thành Phố Hồ Chí Minh

            Đi đường khó biết,

            Bài thơ gốc có điệp ngữ “dạo” (đi đường) để nhấn mạnh, còn bài thơ tiếng Việt thì không. Tuy nhiên, từ “nan” (nan) trong nguyên văn được dịch là “nan” vì nó diễn tả sự khó khăn, vất vả một cách rõ ràng hơn. Từ bức tranh cụ thể đó, người đọc có thể hiểu đại khái: nghề nào cũng vậy, khi bắt tay vào hành động, bạn sẽ thấy sự khó khăn của sự chờ đợi.

            Cái khó trong câu, nhà thơ thể hiện rõ hơn ở câu thừa. Nguyên văn như sau:

            Giun ngoại bào;

            Bản dịch nói:

            Núi cao núi cao;

            Sử dụng nguyên tắc điệp ngữ “núi nối tiếp lớp lớp” để làm rõ nghĩa “đường khó, đường khó” trong câu. Bản dịch tiếng Việt cũng sử dụng điệp ngữ “núi cao”, quan hệ từ “rồi lại”, tính từ “trùng lặp” để cụ thể hóa từ “vất vả” trong câu. Vì vậy, bản dịch bài thơ này khá đầy đủ, bao gồm cả thể thơ. Trong sự kiện thực tế nhà thơ bị bắt vào ngục Quảng Tây, một tỉnh miền núi, nhà thơ muốn nhấn mạnh đến những khó khăn không bao giờ dứt trong cuộc đời, cuộc đời của mỗi người. Con đường trở lại cuộc sống bình thường đã khó, con đường giành lại độc lập tự do bị thực dân tước đoạt cũng gian nan, khó lường. Từ ngày dựng nước đến khi nhà thơ bị bắt, lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, viết bài thơ này đã minh họa cụ thể những gian khổ khôn lường.

            Biết cách thúc đẩy bản thân trong suốt chặng đường. Luôn lạc quan, luôn nỗ lực để đạt được mục đích cuối cùng, bởi hình ảnh trong hai câu được chuyển hóa và khớp với nguyên bản:

            Cong Sandang là một hoàng hậu có địa vị cao và rất giàu có.

            Và bản dịch:

            Ngọn núi cao ngút ngàn thu hút ánh nhìn của hàng ngàn bạn trẻ.

            Cả văn bản gốc và bản dịch đều sử dụng phép đảo ngữ để nhấn mạnh “cùng một ngọn núi”. Chúng ta cố gắng vượt qua mọi khó khăn, leo đến đỉnh mọi ngọn núi để rồi tiến lên phía trước. Thực tế cho thấy, càng leo cao, chúng ta càng có kinh nghiệm vượt chướng ngại vật, lội nước, xuống vực thẳm…, càng gặp nhiều khó khăn, chúng ta càng có nhiều kinh nghiệm giải quyết vấn đề, và chúng ta sẽ tự tin đối mặt với một khó khăn mới. trên đường đời.

            Trong cuộc đời hoạt động của mình, anh ấy đã đi rất nhiều nơi và gặp gỡ rất nhiều người. Ở đâu cũng vậy, mọi người sẽ giúp bạn có thêm kiến ​​thức và kinh nghiệm. Khi bạn đã vượt qua tất cả những ngọn đồi thấp và đạt đến đỉnh cao nhất: những khó khăn lớn nhất đã được vượt qua. Hình ảnh tráng lệ: kẻ gian đứng trên đỉnh núi: một bức tranh tráng lệ, thành công như vậy thật đáng trân trọng. Khi bạn vượt qua khó khăn lớn nhất, bạn sẽ thấy rõ những khó khăn của cuộc sống và hạnh phúc và bình yên là gì.

            Để làm được điều này, bạn cần có cái đầu và khối óc

            Trước đây, Nguyễn Bác Hạc cũng dùng hình ảnh ẩn dụ về việc lên đường để nhấn mạnh vai trò của ý chí con người: “Đường khó không phải núi sông, khó là sợ núi sợ núi”. sông…”. Rồi cụ Phan Bội Châu cũng từng nhắc nhở: “Nếu đời thường,/ Có anh hùng hào kiệt hơn ai hết”, và nay lại có Hồ Chí Minh. Tư tưởng chính trị có nội dung giáo dục không gây nhàm chán, vì các em biết sử dụng hình ảnh sự kiện để diễn đạt tư tưởng của mình. Văn thơ của các danh nhân văn hóa thế giới hiện thực.

            Thế hệ các anh, con cháu các anh đã học được tinh thần ấy trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, chống đế quốc. Người đời sau nhờ nghiên cứu bài thơ này mới thấy đường đời gian nan chuẩn bị bình tĩnh vượt khó: tri thức là phương tiện để “đi đến cùng”, vượt qua nỗi nhục nghèo nàn lạc hậu.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Ví dụ 11

            Bác Hồ đã từng nói: “Ngâm thơ Bác không có hứng thú/ Nhưng ở tù thì làm được gì?”. Vì vậy, tập thơ “Nhật ký trong tù” ra đời trong những năm tháng Bác ở trong tù đã từng được ví như bông hoa tình cờ hái bên vệ đường trong văn học Việt Nam. mạnh mẽ và lạc quan: Trong điều kiện lao tù dưới chế độ tàn ác và thối nát, có tinh thần nghĩa hiệp, chủ nghĩa anh hùng và ý chí sắt đá. Rock and roll, với tinh thần lạc quan cách mạng kiên định.” Bài thơ “Trên đường” là một trong số đó.

            “Phơi nguồn gốc của cải, khoe khoang ba thước ở Nam Thông, ba mùa thu ở bên ngoài, sau khi chính trực lừa dối ngàn dặm, Sanchang Shandan bị sóng lớn bóp nghẹt.”

            Bài thơ này được dịch là:

            “Vừa lên đường mới biết, núi cao đến đâu, đến cuối núi, đều có thể nhìn thấy ánh mắt của ngàn thanh niên.”

            Bài thơ này ra đời vào năm Bác Hồ bị giam cầm trong nhà tù tư tưởng. Tôi bị chúng đưa từ nhà tù này sang nhà tù khác. Con đường di chuyển không chỉ dài mà còn vô cùng khó khăn với những ngọn núi và rặng núi phải leo lên. Nhưng dù vậy, một ý chí “thép” đậm chất Hồ Chí Minh đã được nung nấu từ trong đau khổ. Bài thơ “Đường Về” – “Zang” đã thể hiện rất rõ quan điểm này.

            “Đi đường khó biết”. Câu thơ là một lời khẳng định, nhưng cũng là một sự thật: có đi trên đường mới biết những gian nan, khó khăn của việc đi trên đường. Vậy những cái “khó” và “khó” đó là gì?

            Từ ngọn núi này đến ngọn núi khác, “núi cao và núi cao”, vì vậy nó có nghĩa là “núi cao và núi cao”. Nghĩa gốc của chữ Hán là “thần thông”.

            “Nhật thực” là chỉ núi cao ngang bằng; “hữu” là “lai”, ý thơ là: ngoài non cao trùng điệp, trong bài thơ có chữ “cung san”. ”, huống chi là “hự”, bởi câu thơ gốc gợi hình ảnh đỉnh nhọn vươn cao giữa trời xanh, lao vút về phía chân trời. Con đường này trông thật đáng sợ.

            Nếu tù nhân là tù nhân bình thường, họ phải yếu đi vì sợ hãi. Nhưng người tù đó chính là người cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh. Vì vậy, hai dòng cuối của bài thơ thực sự cao siêu:

            “Cao phong tương ứng hậu văn lý còn ẩn”

            Bản dịch của hai câu khá sát nhau:

            “Ngọn núi cao đến mức thu hút sự chú ý của hàng nghìn bạn trẻ.”

            Sau khi trải qua muôn vàn gian khổ trên đường leo núi, khi lên đến đỉnh Núi Tù Cách Mạng, Người đã chứng kiến ​​một cảnh tượng vô cùng hùng vĩ của “non xanh nước biếc”. Theo lẽ thường, trên đường đèo dốc quanh co, khi lên đến đỉnh, người ta dễ lo lắng và mệt mỏi khi nghĩ đến việc phải đi xuống những cung đường đèo dốc và những ngọn núi bạt ngàn khác. Nhưng TP.HCM thì hoàn toàn ngược lại.

            Khi con người đứng trên cao để cảm nhận sự bao la của nước và vũ trụ, nó mang lại cho con người cảm giác tự hào và vui sướng. Hình ảnh “đôi mắt đã hút hết nước non” thật phóng khoáng. Nó gợi lên hình ảnh nhỏ bé của con người đối diện với thiên nhiên giang san bao la, khép kín. Người đó không hề choáng ngợp trước vẻ tráng lệ của thế giới mà còn vô cùng sung sướng, phấn khích như lần đầu tiên nhìn thấy khuôn mặt dịu dàng. Chính nhận thức này đã nâng địa vị con người lên ngang tầm nhà nước.

            Trước một sự thật khách quan, mỗi người có một nhận thức khác nhau. Cảm giác này phụ thuộc vào thế giới quan và bản lĩnh của mỗi người, ở Thành phố Hồ Chí Minh người ta có cảm giác lạc quan, tươi sáng về cuộc sống. Người không bị những gian khổ vật chất vùi lấp ước mơ, khát vọng, lí tưởng mà ngược lại, Người vượt lên để khẳng định ý chí kiên định, ngoan cường và thái độ lạc quan, tin tưởng vào cách mạng của mình. Một tinh thần thép là vẻ đẹp của tâm hồn bạn.

            Bài thơ Đi đường – Đi trốn không chỉ là bản đồ đường đi đầy gian khổ, nguy hiểm mà còn là bức chân dung tự họa của Hồ Chí Minh. Từ bài thơ, người đọc cảm nhận được hình ảnh của Bác vừa có nét điềm đạm của người đi trước tôn giáo, vừa có sự kiên cường lạc quan, mạnh mẽ của người chiến sĩ cách mạng.

            Vì vậy, những bài thơ như “Đi đường”, “Đi trốn” trong tập thơ “Nhật ký trong tù” thực sự là một tuyệt phẩm của nền văn học Việt Nam.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Văn mẫu 12

            “Tôi không thích ngâm thơ cho lắm, nhưng ở trong tù chờ ngày tự do, tôi không biết làm gì sau một ngày ngâm thơ giải trí”

            Đây là lời tâm sự của một người tù đặc biệt: Hồ Chí Minh, người bị tù đày vì tội gián điệp khi đang tìm đường giải phóng dân tộc và đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược. “Dạo hành” vốn được dịch là “Vượt ngục”, mục đích thuần túy là ghi lại cuộc sống và cảm xúc trong tù trong mười bốn tháng này, thực sự là một bài thơ nhật ký chân thành và sâu sắc. . .

            “Thể hiện tài năng, thể hiện ba nguyện vọng của Nam Thông, huýt sáo ở trường cấp 2 số 3, sóng gió, chơi hết mình”

            Bản dịch:

            “Có đi trên đường mới biết núi cao đến đâu, đến cuối núi mới thấy mắt ngàn non”

            Nếu không biết hoàn cảnh ra đời của bài thơ này, có thể bạn sẽ cho rằng đây là bài thơ dành cho kẻ nhàn rỗi thưởng ngoạn phong cảnh! Thảo nào truyện “đi bộ” của tác giả không phải là truyện leo núi mà là hành trình của người tù: đi trong xiềng xích, đi trong sự tra tấn về thể xác và tinh thần. Tác giả đã nói về điều này trong bài viết “on the go”:

            “Tuy ràng buộc, chim hót trong núi rộn ràng, hương trong rừng bay”

            Hoặc:

            “Năm mươi ba cây số một ngày, áo mưa mũ bỏ giày”

            Hoặc:

            “Hôm nay đeo gông xiềng, mỗi bước đều leng keng ngọc rung”…

            Nếu hình dung cảnh lên đường như vậy thì có thể hiểu chữ “khó” trong bài thơ “Đường gian nan” của tác giả. Nếu một người phải đi một quãng đường dài, “núi cao núi cao”, ăn uống, vui chơi, nghỉ ngơi tự do, đường dài vắng xe, người ta sẽ cảm thấy mệt mỏi.

            Tuy nhiên, đây chẳng phải là thử thách lớn khi tù nhân ăn không ngon, mặc xiềng xích, đi lại trong mưa gió, không được nghỉ ngơi tự do? Tuy nhiên, ở đây, bài thơ này không chứa đựng sự phẫn uất mà như một sự khám phá, một sự suy ngẫm về cuộc đời: “Đi đường gian nan”, từ đó ta cảm nhận được bản lĩnh, nghị lực của nhà thơ chiến sĩ,

            Tác giả tả cảnh núi dốc ở câu thứ hai chứ không tả sự gian khổ của xiềng xích. Thơ là lối độc thoại nội tâm, là sự suy ngẫm về sự thật của cuộc đời, là bản ghi chép tìm ra chân lý thú vị trong sự tra tấn phi lý, phi nhân.

            Người Việt dùng truyện du ký để động viên, khuyến khích con cháu: “Đi một ngày đàng học sàng khôn”. . Qua hai câu sau, tứ bình thay đổi bất ngờ:

            “Không thể xảy ra công nghệ cao, post van li, thử lừa đảo”.

            Bản dịch thơ nam tre là:

            “Ngắm cuối ngàn núi sông”.

            Ngay cả với những bản dịch tốt nhất, người dịch vẫn không thể diễn tả hết tâm tư cảm động của tác giả bằng hai chữ “cố lừa”. Cả bốn câu diễn tả tâm trạng của một người xa xứ sống trên đỉnh núi cao, nhìn về cố hương, trong lòng nao nao, nhớ nhung da diết. Nói đến đây, chúng ta thử đọc phương ngữ chính thức của nhà Đường trên lầu nhé:

            Mặt trời đã lên cao, sông Ngọc Giang cuộn ra biển, muốn nhìn xa vạn dặm, lên lầu xem Đan Thủy (Trần Trung Sơn dịch)

            Cũng là hai nhà thơ “đu cỏ” nhưng một người đã lên đến đỉnh núi. Người ta chỉ cần đi bộ lên một tầng. Mọi người lang thang xung quanh và vật lộn. Những người làm biếng, hãy tận hưởng những ngọn núi ở một nơi yên tĩnh.

            Kết lại, chúng ta hãy trở lại với tấm lòng của nhà thơ chiến sĩ. Đây là chân dung và tâm sự của một con người “đêm nằm mơ thấy nước, ban ngày nhìn thấy nước”, là ngòi bút đầy nhân văn của dân tộc Việt Nam, của Tổ quốc khát khao tự do. Một khao khát cả đời đã được thực hiện.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Ví dụ 13

            “Nhật ký trong tù” là một tập thơ đặc sắc của Hồ Chí Minh. Đọc những vần thơ chú viết trong những năm gian khổ nơi biên ải, tôi càng thấy xúc động trước tâm tư của một con người. Ở Bác không chỉ có tình yêu thiên nhiên sâu sắc, lòng yêu nước thương dân vô hạn mà còn là một con người vĩ đại có ý chí, nghị lực phi thường, tinh thần lạc quan trước những khó khăn, trở ngại. Bài thơ “Đi bộ ngao du” của người đó tiêu biểu cho tâm hồn cao cả ấy.

            “Có đi trên đường mới biết núi cao đến đâu, đến cuối núi mới thấy mắt ngàn non”

            Mở đầu bài thơ, như một sự trải nghiệm muôn vàn gian khổ, Người đã dùng chính đôi chân của mình để đi từ ngục tù này đến ngục tù khác, Người thấu hiểu chặng đường gian khổ, giản dị mà chất chứa gian khổ. Con đường từ núi này sang núi khác dài và dài, núi rừng dốc nên người tù không tránh khỏi có lúc mệt mỏi.

            Mỗi bước đường núi chạy như thử thách, thử thách ý chí, nghị lực của những người tù cách mạng. Một bài thơ hiện thực, cuộc hành trình đầy gian khổ và nguy hiểm. Khi bạn đã vượt qua ngọn núi cao nhất, đã đến lúc leo lên đỉnh. Ngược lại, người này đã trải qua muôn vàn khó khăn và đến được ngọn núi cuối cùng. Giờ phút này, núi non hùng vĩ, thế giới bao la, sông núi bao la dường như thu vào tầm mắt.

            Vượt ngàn sông núi với những bước chân nặng trĩu, người tù hiện tại dường như đang đứng trong một tư thế rất thoải mái, ung dung ngắm nhìn cảnh đẹp núi non của mình. Một vẻ đẹp bao la “muôn hình vạn trạng” trường tồn mãi với thời gian. Bao nhiêu vất vả được xua tan và thay vào đó là niềm vui sướng tột độ khi được ngắm nhìn và cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên.

            Tuy nhiên, bài thơ này không chỉ dừng lại ở tầng ý nghĩa này. Nó cũng như một bản trường ca về lẽ sống, về con đường cách mạng giành độc lập, tự do của một dân tộc. Có muôn vàn khó khăn trên con đường làm cách mạng, mỗi người cần có bản lĩnh để vượt qua. Khó khăn đến từ nhiều khía cạnh, nhiều nguyên nhân, cuộc sống không thể làm chúng ta lung lay hay lùi bước, chúng ta phải bình tĩnh thấu hiểu, vượt qua bằng ý chí, hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn cho dân tộc.

            Vì vậy, khi cách mạng thắng lợi, đất nước được giải phóng cũng là lúc nhân dân hạnh phúc, đất nước hòa bình. Con đường cách mạng không phải một sớm một chiều, con đường ấy đầy hiểm nguy giặc ngoại xâm, kẻ thù tàn ác, những người cách mạng phải ra sức kiên cường, kiên trung hoàn thành nhiệm vụ, đem lại thắng lợi vẻ vang cho nhân dân các nước. Đồng thời qua bài thơ này cho ta bài học về cuộc sống.

            Đường đời đầy chông gai, sỏi đá buộc chúng ta phải vượt qua những thăng trầm. Thành công chỉ đến với những người làm việc chăm chỉ và xem khó khăn là một phần tự nhiên của cuộc sống. Khi chúng ta vượt qua nó, chúng ta sẽ có kết quả tốt hơn. Hãy tin vào chính mình, giữ cho mình một tinh thần lạc quan nhất và đối mặt với những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

            Đọc bài thơ này tôi càng cảm kích và kính trọng bạn hơn. Những bài thơ viết ra tràn đầy cảm xúc, tràn đầy ý chí và tinh thần lạc quan. Anh từng nói: “Đường khó không phải núi sông mà sợ sông núi.” Qua bài thơ này anh có thể chuyển tải cho chúng tôi những thông tin tích cực và quý giá không? Đời sống? Sau nhiều năm.

            Phân tích bài thơ Đi đường – Văn mẫu 14

            Bài thơ “Đi bộ ngao du” là đứa con tinh thần vô cùng quý báu của Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Có thể nói, bài thơ này ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt: khi ông đi sứ ở Trung Quốc và bị cầm tù, dựa trên kinh nghiệm bản thân, ông đã viết một tập thơ như “Nhật ký trong tù” và “Trên đường”. Bài thơ gồm bốn câu thơ thất ngôn, dịch lục bát:

            “Có đi trên đường mới biết núi cao đến đâu, đến cuối núi mới thấy mắt ngàn non”

            Ngay từ câu đầu tiên, ta có thể thấy rõ cách diễn đạt và lối viết giản dị của Bác: “Đi đường mới biết gian khổ”. “Lên đường” nghe có vẻ bình thường, nhưng quả thực, khi lâm vào cảnh bị trói chân tay, chúng tôi mới thực sự hiểu “lên đường” có nghĩa là bị đưa lên đường, hay bị đày ải.

            Bác tuy không dùng nhiều hình ảnh miêu tả liên quan nhưng ít nhiều chúng ta cũng hiểu được bối cảnh lịch sử, mặc dù bài thơ không tả cảnh Bác bị giải từ ngục này sang ngục khác và sống giữa chốn ngục tù. Đói kém và lời nguyền.Từ “lần đầu làm quen” nghe như một lời kể lại khiêm tốn nhưng chất chứa quá nhiều khó khăn, mưa gió mà bạn phải trải qua.

            Vì vậy, câu đầu của bài “Đi đường” không chỉ là sự đúc kết kinh nghiệm trong suốt cuộc hành trình, mà còn hàm chứa một thái độ đánh giá, một kiểu ý thức tư duy trong suốt chặng đường bị giam cầm và cả trên đường hành đạo. đường đời. Giải phóng, tìm tự do cho dân tộc. Sang đến câu thứ hai, một khung cảnh thiên nhiên hiện ra: “Núi núi trùng trùng điệp điệp”.

            Núi cao tầng tầng lớp lớp, nối tiếp nhau, là nơi không thể bỏ qua trên đường nghỉ chân. Những ngọn núi mang theo những khó khăn mà bạn phải đối mặt. Núi trước núi sau, còn muôn vàn khó khăn tưởng như không có hồi kết nên khổ đau kéo dài mãi không bao giờ dứt.

            Khổ thơ thứ hai như giải thích ý nghĩa của khổ thơ thứ nhất. Chặng đường phía trước không hề dễ dàng, có những ngọn núi cao chắn ngang bước chân người tù, trên vai vẫn đeo xiềng sắt. Hai câu cuối tả cảnh thiên nhiên rõ hơn:

            “Núi cao tận đáy, nhìn thấy nước xanh”

            Núi cao không chỉ trải dài, mà “đến tận cùng” cũng là lúc người tù phải đối mặt với những gian khổ tột cùng. Con người trở nên nhỏ bé trước thiên nhiên và vũ trụ. Tuy nhiên, những người có ý chí và quyết tâm cuối cùng sẽ đạt đến đỉnh cao sau vô số thăng trầm.

            Người đi trên phố tưởng như đang đi nhìn núi nhưng quả thật phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, tuy nhiên người tù vẫn làm chủ được thiên nhiên. Khi đó, con người thu hết cảnh vật xung quanh mình, và trong bài thơ, có một người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, tận hưởng niềm vui khó tả khi được thưởng ngoạn cảnh non nước, mây trời. Đỉnh cao, đó là chiến thắng.

            Bài thơ “Tổ quốc kính yêu lên đường” không còn là thơ tả cảnh đời thường mà là hình ảnh người đi đường, kết hợp với những nét phác họa hết sức bình dị, lãng mạn. Tạo cho thơ một sức hấp dẫn riêng.

            Xem Thêm: Top 10 Bài thơ hay của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi

            Xem thêm:  Đặt tên con trai 2022 họ Phạm hay và hợp phong thủy

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *