Văn mẫu lớp 12: Cảm nhận 14 câu đầu bài thơ Tây Tiến (Dàn ý 5 mẫu) Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến khổ 1

Phân tích 14 câu đầu bài thơ tây tiến

Phân tích 14 câu đầu bài thơ tây tiến

Video Phân tích 14 câu đầu bài thơ tây tiến

Cảm nhận 14 dòng đầu bài thơ Miền Tây của quang dũng Học sinh lớp 12 không chỉ có thêm nhiều ý tưởng hay cho bài viết của mình mà còn được học về nỗi nhớ. Đã đến lúc phải nhớ. Muốn viết được bài văn hay phải nắm vững nội dung kiến ​​thức văn bản và kĩ năng làm bài văn phân tích tác phẩm văn học.

Bạn Đang Xem: Văn mẫu lớp 12: Cảm nhận 14 câu đầu bài thơ Tây Tiến (Dàn ý 5 mẫu) Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến khổ 1

download.vn có 5 bài cảm nhận về 14 câu đầu thơ tây phương sẽ giúp các em có thêm tài liệu tham khảo, gợi ý, vận dụng các kĩ năng đã học để viết bài văn. bài thơ hay. Ngoài ra các bạn có thể xem thêm các bài viết phân tích thơ tây phương.

Lập dàn ý 14 dòng đầu bài thơ Tây

1. phần mở đầu:giới thiệu tác giả quang dũng và thơ tây phương

– Dẫn đến đoạn đầu của cả bài thơ: Đoạn đầu của bài Tây thơ diễn tả thời kì chống Nhật gian khổ, gian khổ của bộ đội.

2. Nội dung bài đăng

2.1 Hồi ức về miền núi Tây Bắc và đoàn quân Tây Bắc

– “Ma He” và “Tây Du Ký” tưởng chừng như họ hàng thân thiết nhưng Quảng Đông lại dồn hết tình cảm vào đó.

– “Nhớ nhau chơi bời” là nỗi nhớ da diết của những người lính nơi thành phố.

=>Núi rừng Tây Bắc đã khắc sâu trong tâm hồn họ những kỉ niệm khó quên, đồng thời cũng khắc sâu trong lòng tác giả sự trống vắng, hoang mang.

2.2 Hình ảnh núi rừng Tây Bắc và đường hành quân gian khổ của người lính

– “sài không”, “mường lam” là những địa danh gợi nhắc về miền tây đánh giặc, mở rộng ra những không gian khác trong bài thơ.

——Nỗi nhớ ở đây như tràn ngập cả không gian rộng lớn, mỗi nơi tác giả đi qua đều mang một cảm giác thân thương đặc biệt, đã trở thành kỉ niệm khắc sâu trong đáy lòng.

-Sự “đuối sức” sau cuộc hành quân, đuốc hoa lắc lư trong đêm tối, những kỉ niệm nho nhỏ ấy đều khẳng định nỗi nhớ da diết của tác giả.

– Nó vừa gợi sự cheo leo của núi rừng Tây Bắc, vừa gợi sự gian khổ, kiên cường của những người lính trên đường hành quân.

– “Súng trời” là một hình ảnh nhân hóa thú vị, thể hiện tâm hồn lãng mạn, hồn nhiên và hóm hỉnh của người lính chiến đấu trong cuộc chiến đấu gian khổ.

– “Nhà ai mưa xa bổ sung cho nhau”, đó là vẻ đẹp của cuộc sống, là chất thơ lãng mạn của núi rừng cằn cỗi, khơi dậy sự bình yên, nơi yên nghỉ của những người lính.

2.3 Hình ảnh và kỷ niệm của người lính

– Hai câu “anh…quên đời”:

  • Sự hy sinh cao cả của người lính, khí chất anh hùng đáng tự hào, sẵn sàng xả thân bất cứ lúc nào cho Tổ quốc.
  • Tôi đau xót và khâm phục tinh thần dũng cảm hy sinh vì đồng đội của Quang.
  • – Kết thúc bốn câu: “Chiều… cơm nếp”

    • Sự hùng vĩ, uy nghiêm của núi rừng Tây Bắc trong cấu trúc thơ hiện đại, sự dữ dội của các động từ, thêm vào đó là sự nguy hiểm rình rập của rừng chúa, nước độc của thú dữ.
    • Tác giả thức dậy khỏi kí ức, trở về thực tại với nỗi nhớ da diết, hừng hực, nhớ tình quân dân ấm áp với nắm gạo nếp, nhớ hương khói lửa những năm tháng chinh chiến.
    • 3. Kết thúc

      3.1 Giá trị nội dung

      – 14 bài thơ thể hiện rõ nét thiên nhiên, con người Tây Bắc, người lính Tây Bắc hào hùng, bi tráng dưới khung cảnh thiên nhiên.

      3.2 Giá trị nghệ thuật

      – Nghệ thuật tương phản, phóng đại, sử dụng những từ ngữ giàu sức gợi, giàu sức gợi để vẽ nên một bức tranh giàu màu sắc, đường nét.

      – Kết hợp giữa phong cách hiện thực và cảm hứng lãng mạn; đồ họa kết hợp với âm nhạc => tái hiện lại cung đường hành quân hiểm trở, hùng vĩ và nên thơ của núi rừng Tây Bắc.

      • Nghệ thuật nói hài: Tác giả gây khó bằng thể thơ nhiều câu.
      • Nét thơ, trữ tình: cách dùng từ độc đáo, ấn tượng: “hoa nở” thay cho “hoa nở”; “đêm nhỏ” thay cho “sương đêm”.
      • 14 câu đầu thơ Tây – mẫu 1

        “Tây du ký” là bài thơ hồn tiêu biểu nhất của Quảng Dũng, và là một trong những bài thơ hay nhất trong các bài binh thư chống Pháp. Bài thơ kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, miêu tả chân thực cuộc sống, chiến đấu gian khổ, hy sinh anh dũng và vẻ đẹp hào hùng của người lính. 14 dòng đầu của bài thơ thể hiện rõ hình ảnh người chiến sĩ dũng cảm.

        Bài thơ này được viết năm 1948, khi quân và dân ta gặp muôn vàn khó khăn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Không chỉ phải chiến đấu ở những vùng rừng núi hiểm trở, binh lính miền Tây còn phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn quân trang, quân dụng, lương thực, thuốc men. Tuy nhiên, bằng tất cả sức mạnh của lý tưởng yêu nước, các chiến sĩ đã đứng vững vàng, sống lạc quan, vững niềm tin, không quản ngại gian khổ, hy sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tất cả đều được ghi nhận bằng những vần thơ hào hùng và bi tráng.

        Sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và bút pháp hiện thực đã tạo nên một bi kịch rất riêng cho 14 dòng đầu bài thơ, mang màu sắc và giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng về sự hi sinh, mất mát của những người lính ở miền Tây. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ này là nỗi nhớ: nỗi nhớ đồng đội thân yêu trong vòng tay, nỗi nhớ bộ đội miền tây, nỗi nhớ Măngcun và núi rừng miền tây, nỗi nhớ một kỉ niệm đẹp thời chiến… Bốn câu đầu mở ra nỗi nhớ thương vô hạn. :

        “Mahe đã xa rồi, lại đi về phía tây! Núi đừng quên chơi, vui chơi đừng quên”.

        Nói về nỗi nhớ ấy, bài thơ này ghi lại cảnh gian lao vất vả của những ngày đầu chống Pháp, của tuổi trẻ Việt Nam vẻ vang, không khí lãng mạn của “anh hùng nhiều chiến sĩ”. Hai câu đầu nói về nỗi nhớ, nỗi nhớ trời Tây, nỗi nhớ núi rừng, nỗi nhớ dòng sông ân tình.

        Tôi không khỏi “xa” quê hương, lòng đau đáu khi nhớ lại da diết. Đây “chơi vơi” với nỗi nhớ. Tiếng gọi “Tương Tây” nghe chân thành như tiếng gọi của người thân. Từ điệp ngữ “Ôi!” gieo vần với từ “chơi” đã tạo nên một vần thơ sâu lắng, réo rắt, du dương, âm vang trong lòng người và lan tỏa trong không gian theo thời gian. Từ “xa” như một tiếng thở dài luyến tiếc, vang vọng ý chỉ “lỡ” ở vế thứ hai, đồng thời bộc lộ tình cảm cao đẹp của các sĩ tử miền Tây đối với núi Mã Giang Tây. Sau cuộc điện thoại đó, bao nhiêu ký ức về quãng thời gian bi thảm đó lại ùa về trong tâm trí tôi.

        Câu thơ tiếp theo nói về cuộc hành quân gian khổ của Tây quân:

        “Saiye hy vọng rằng hoa Lulu sẽ nở và làm kiệt quệ quân đội, và khẩu súng hấp thụ mây sẽ ngửi thấy mùi súng hấp thụ mây trên một con dốc nhẹ lên ngàn mét và xuống ngàn mét đến nhà ai đó lẫn trong mưa “.

        Những tên bản, tên dân tộc Môn: sài khương, mường lam, pha luồng, mường hịch, mai châu… nhắc đến không chỉ gợi bao hoài niệm mà còn để lại nhiều ấn tượng của sự xa xôi và lợn. , Hoang sơ, núi thẳm cùng cốc,… đã khơi dậy trí tò mò, khát khao của những người trẻ “cái thời cầm gươm bảo quốc-tình yêu và hoài niệm về vùng đất rồng bay ngàn năm “. Đoàn quân hành quân giữa sương núi

        Xem Thêm: Truyện ngắn Người trong bao Năm 1898, Sê-khốp

        Phía trước còn nhiều núi cao, đèo cao, dốc đứng mà Tây quân muốn chinh phục. Khi lên dốc thì những khúc cua gập ghềnh, khi xuống dốc thì “thầm” như vực thẳm. Các từ: “quanh co”, “sâu”, “ngọt” diễn tả sự gian nan, vất vả của con đường hành quân tác chiến: “Dốc có khúc quanh, dốc hút mây ngút trời!”. Đỉnh núi cao sương mù. Hình ảnh nhân hoá về súng của tướng: “Ôn Thiên Chí Súng” đầy vẻ đẹp nên thơ, lãng mạn và truyền cảm hứng, cho ta rất nhiều thơ ca. Nó khẳng định ý chí, quyết tâm cao độ của những người lính “gian khó, địch ta nhất định thắng!”.

        Núi sông là thiên nhiên, như đang thử thách lòng người: “Lên ngàn thước, xuống ngàn thước”. Dọc đường lên xuống, từ thấp lên cao, qua rồi lại qua, dốc lên dốc, vô tận. Đoạn thơ gồm hai đoạn: “Lên ngàn thước//Xuống ngàn thước”, hình ảnh thơ cân đối hài hòa, gợi tả khung cảnh núi rừng hùng vĩ, thể hiện ngòi bút điêu luyện của nhà thơ. – Lính.

        Có cảnh đoàn quân đi dưới mưa: “Đằng kia mưa xa”. Các câu thơ đan xen bằng các thanh ngã mạch lạc, gợi lên tâm hồn tươi trẻ ngọt ngào của những chú bộ đội nhỏ bé luôn lạc quan, yêu đời dù gian khổ. Trong mưa rừng, ánh mắt của những người chiến binh hướng về phía tây vẫn hướng về những bản làng của người Mông, những mái ấm hiền hòa, yêu thương của những con người sẽ đến đây bằng xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn chúng. . .

        Đạo không chỉ là núi cao, không chỉ là mưa xối xả, mà còn là tiếng hổ gầm nơi rừng thiêng nước độc, tiếng hổ gầm nơi hoang vu:

        “Thác chiều gầm, hổ rình mồi đêm”

        “Trưa…”, “Đêm”, nhưng tiếng nói, tiếng “thác gầm”, “cọp trêu” cứ đều đều khẳng định sức mạnh bí mật, ghê gớm của rừng thiêng ngàn năm. Khí phách hiên ngang trong thơ ca Quảng Đông là dùng núi rừng dốc đứng phía Tây để làm nổi bật và miêu tả khí thế anh dũng của đoàn quân tiến lên. Câu thơ nào cũng để lại trong lòng người đọc một ấn tượng: gian khổ tột cùng và dũng cảm tột cùng! Đoàn quân vẫn tiến lên, nối tiếp nhau hành quân. Sức mạnh của thiên nhiên dường như bị suy yếu, và giá trị của con người dường như được nâng lên một tầm cao mới. Quang Dũng cũng nói về sự hy sinh của đồng đội trong cuộc hành quân vô cùng gian khổ:

        <3

        Thực tế chiến tranh luôn là như vậy! Hy sinh quân sự là không thể tránh khỏi. Đổ máu đã rèn nên Tháp Tự do. Bài thơ nói lên sự mất mát, hy sinh nhưng không chút xót xa, bi lụy.

        Hai dòng cuối bài thơ đầy cảm xúc. Như thông điệp của một bản nhạc buồn. Như một khúc hoài cổ, hoài niệm và tự hào:

        “Nhớ mùa nếp em khói Mai Châu”

        “Nhớ anh!” Tình cảm dạt dào là tấm lòng của những người lính miền Tây “không mọc tóc”. Thơ đầy tình cảm quân nhân. Bạn đã bao giờ quên hương vị của Măngcun trong “cơm lam” và “mùa nếp thơm”? Từ “Mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thơ, hàm chứa tình yêu và nỗi nhớ da diết, âm điệu trở nên uyển chuyển, mềm mại, lời thơ trở nên ấm áp tình người. Nó cũng nói về hương nếp, gạo nếp, “mùa của em” và tình quân dân, sau này Chế Lan Văn đã viết trong bài “Bài ca con đò”:

        “Cuối năm nắm tay nhau, vắt gạo nếp ăn bộ đội, giấu vào rừng. Đất trời Tây Bắc mênh mang lúa vẫn thơm”

        “Nhớ hương”, nhớ “khói cơm”, nhớ “hương nếp nương”, tức là nhớ hương vị của núi rừng Tây Bắc, nhớ công ơn, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào ở Tây Bắc.

        Xem Thêm : Cách giới thiệu nghề nghiệp bằng tiếng Anh chuyên nghiệp nhất

        Đoạn sonnet trên là phần đầu của bài thơ “Tây Dương”, một trong những bài thơ hay nhất của một người lính viết trong chín năm kháng Pháp. Một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ phản chiếu hình ảnh những người lính dũng cảm, lạc quan, với niềm tự hào “ra trận không tiếc tuổi thanh xuân…”, đã máu lửa. Đoạn văn này để lại một dấu ấn đẹp đẽ cho thơ ca kháng chiến, thành công ở sự kết hợp hài hoà giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nửa thế hệ đã trôi qua, bài thơ “Tây tiến” của Quang Dũng ngày càng có ý nghĩa.

        Cảm nhận về miền Tây đoạn 1 – Văn mẫu 2

        “Tây du ký” là bài thơ hồn tiêu biểu nhất của Quảng Dũng, và là một trong những bài thơ hay nhất trong các bài binh thư chống Pháp. Bài thơ kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, miêu tả chân thực cuộc sống, chiến đấu gian khổ, hy sinh anh dũng và vẻ đẹp hào hùng của người lính. 14 dòng đầu của bài thơ thể hiện rõ hình ảnh người lính Tây Tiến dũng cảm, hiên ngang.

        Bài thơ này được viết năm 1948, khi quân và dân ta gặp muôn vàn khó khăn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Không chỉ phải chiến đấu ở những vùng rừng núi hiểm trở, binh lính miền Tây còn phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn quân trang, quân dụng, lương thực, thuốc men. Tuy nhiên, bằng tất cả sức mạnh của lý tưởng yêu nước, các chiến sĩ đã đứng vững vàng, sống lạc quan, vững niềm tin, không quản ngại gian khổ, hy sinh để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tất cả đều được ghi nhận bằng những vần thơ hào hùng và bi tráng.

        Sự kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và bút pháp hiện thực đã tạo nên một bi kịch rất riêng cho 14 dòng đầu bài thơ, mang màu sắc và giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng về sự hi sinh, mất mát của những người lính ở miền Tây. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ này là nỗi nhớ: nỗi nhớ đồng đội thân yêu trong vòng tay, nỗi nhớ bộ đội miền tây, nỗi nhớ Măngcun và núi rừng miền tây, nỗi nhớ một kỉ niệm đẹp thời chiến… Bốn câu đầu mở ra nỗi nhớ thương vô hạn. :

        “Mahe đã xa rồi, lại đi về phía tây! Núi đừng quên chơi, vui chơi đừng quên”.

        Nói về nỗi nhớ ấy, bài thơ này ghi lại cảnh gian lao vất vả của những ngày đầu chống Pháp, của tuổi trẻ Việt Nam vẻ vang, không khí lãng mạn của “anh hùng nhiều chiến sĩ”. Hai câu đầu nói về nỗi nhớ, nỗi nhớ trời Tây, nỗi nhớ núi rừng, nỗi nhớ dòng sông ân tình.

        Tôi không khỏi “xa” quê hương, lòng đau đáu khi nhớ lại da diết. Đây “chơi vơi” với nỗi nhớ. Tiếng gọi “Tương Tây” nghe chân thành như tiếng gọi của người thân. Từ điệp ngữ “Ôi!” gieo vần với từ “chơi” đã tạo nên một vần thơ sâu lắng, réo rắt, du dương, âm vang trong lòng người và lan tỏa trong không gian theo thời gian. Từ “xa” như một tiếng thở dài luyến tiếc, vang vọng ý chỉ “lỡ” ở vế thứ hai, đồng thời bộc lộ tình cảm cao đẹp của các sĩ tử miền Tây đối với núi Mã Giang Tây. Sau cuộc điện thoại đó, bao nhiêu ký ức về quãng thời gian bi thảm đó lại ùa về trong tâm trí tôi.

        Câu thơ tiếp theo nói về cuộc hành quân gian khổ của Tây quân:

        “Saiye hy vọng rằng hoa Lulu sẽ nở và làm kiệt quệ quân đội, và khẩu súng hấp thụ mây sẽ ngửi thấy mùi súng hấp thụ mây trên một con dốc nhẹ lên ngàn mét và xuống ngàn mét đến nhà ai đó lẫn trong mưa “.

        Những tên bản, tên dân tộc Môn: sài khương, mường lam, pha luồng, mường hịch, mai châu… nhắc đến không chỉ gợi bao hoài niệm mà còn để lại nhiều ấn tượng của sự xa xôi và lợn. , Hoang sơ, núi thẳm cùng cốc,… đã khơi dậy trí tò mò, khát khao của những người trẻ “cái thời cầm gươm bảo quốc-tình yêu và hoài niệm về vùng đất rồng bay ngàn năm “. Đoàn quân hành quân giữa sương núi

        Xem Thêm: Truyện ngắn Người trong bao Năm 1898, Sê-khốp

        Phía trước còn nhiều núi cao, đèo cao, dốc đứng mà Tây quân muốn chinh phục. Khi lên dốc thì những khúc cua gập ghềnh, khi xuống dốc thì “thầm” như vực thẳm. Các từ: “quanh co”, “sâu”, “ngọt” diễn tả sự gian nan, vất vả của con đường hành quân tác chiến: “Dốc có khúc quanh, dốc hút mây ngút trời!”. Đỉnh núi cao sương mù. Hình ảnh nhân hoá về súng của tướng: “Ôn Thiên Chí Súng” đầy vẻ đẹp nên thơ, lãng mạn và truyền cảm hứng, cho ta rất nhiều thơ ca. Nó khẳng định ý chí, quyết tâm cao độ của những người lính “gian khó, địch ta nhất định thắng!”.

        Núi sông là thiên nhiên, như đang thử thách lòng người: “Lên ngàn thước, xuống ngàn thước”. Dọc đường lên xuống, từ thấp lên cao, qua rồi lại qua, dốc lên dốc, vô tận. Đoạn thơ gồm hai đoạn: “Lên ngàn thước//Xuống ngàn thước”, hình ảnh thơ cân đối hài hòa, gợi tả khung cảnh núi rừng hùng vĩ, thể hiện ngòi bút điêu luyện của nhà thơ. – Lính.

        Có cảnh đoàn quân đi dưới mưa: “Đằng kia mưa xa”. Các câu thơ đan xen với các khổ thơ ngã ngữ mạch lạc gợi lên sự dịu dàng, tươi tắn của tâm hồn những người lính nhỏ bé dù gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong mưa rừng, ánh mắt của những người chiến binh hướng về phía tây vẫn hướng về những bản làng của người Mông, những mái ấm hiền hòa, yêu thương của những con người sẽ đến đây bằng xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn chúng. . .

        Khó khăn không chỉ là núi cao, không chỉ là mưa như trút, mà còn là tiếng hổ báo gầm rú nơi rừng thiêng nước độc, nơi hoang vu:

        “Thác chiều gầm, hổ rình mồi đêm”

        “Trưa…”, “Đêm”, nhưng tiếng nói, tiếng “thác gầm”, “cọp trêu” cứ đều đều khẳng định sức mạnh bí mật, ghê gớm của rừng thiêng ngàn năm. Khí phách hiên ngang trong thơ ca Quảng Đông là dùng núi rừng dốc đứng phía Tây để làm nổi bật và miêu tả khí thế anh dũng của đoàn quân tiến lên. Câu thơ nào cũng để lại trong lòng người đọc một ấn tượng: gian khổ tột cùng và dũng cảm tột cùng! Đoàn quân vẫn tiến lên, nối tiếp nhau hành quân. Sức mạnh của thiên nhiên dường như bị suy yếu, và giá trị của con người dường như được nâng lên một tầm cao mới. Quang Dũng cũng nói về sự hy sinh của đồng đội trong cuộc hành quân vô cùng gian khổ:

        <3

        Thực tế chiến tranh luôn là như vậy! Hy sinh quân sự là không thể tránh khỏi. Đổ máu đã rèn nên Tháp Tự do. Bài thơ nói lên sự mất mát, hy sinh nhưng không chút xót xa, bi lụy.

        Hai dòng cuối bài thơ đầy cảm xúc. Như thông điệp của một bản nhạc buồn. Như một khúc hoài cổ, hoài niệm và tự hào:

        “Nhớ mùa nếp em khói Mai Châu”

        “Nhớ anh!” Tình cảm dạt dào là tấm lòng của những người lính miền Tây “không mọc tóc”. Thơ đầy tình cảm quân nhân. Bạn đã bao giờ quên hương vị của Măngcun trong “cơm lam” và “mùa nếp thơm”? Từ “Mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thơ, hàm chứa tình yêu và nỗi nhớ da diết, âm điệu trở nên uyển chuyển, mềm mại, lời thơ trở nên ấm áp tình người. Nó cũng nói về hương nếp, gạo nếp, “mùa của em” và tình quân dân, sau này Chế Lan Văn đã viết trong bài “Bài ca con đò”:

        “Cuối năm nắm tay nhau, vắt gạo nếp ăn bộ đội, giấu vào rừng. Đất trời Tây Bắc mênh mang lúa vẫn thơm”

        “Nhớ hương”, nhớ “khói cơm”, nhớ “hương nếp nương”, tức là nhớ hương vị của núi rừng Tây Bắc, nhớ công ơn, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào ở Tây Bắc.

        Với 14 dòng đầu của bài thơ này là một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 năm kháng chiến chống Pháp. Một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ phản chiếu hình ảnh những người lính dũng cảm, lạc quan, với niềm tự hào “ra trận không tiếc tuổi thanh xuân…”, đã máu lửa. Đoạn văn này để lại một dấu ấn đẹp đẽ cho thơ ca kháng chiến, thành công ở sự kết hợp hài hoà giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nửa thế hệ đã trôi qua, bài thơ “Tây tiến” của Quang Dũng ngày càng có ý nghĩa.

        Cảm nhận khổ thơ đầu bài thơ Tây du ký – mẫu 3

        “Tây Du Ký” được coi là con trưởng của Quang Dũng, đồng thời cũng là thi ca kháng Nhật của văn học Việt Nam, nhất là trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ. Những học sinh áo trắng, gác bút mực xanh, nguyện yêu nước, chiến đấu vì Tổ quốc, vì hòa bình của dân tộc, ra đi với trái tim hào hùng nhưng vẫn mang theo khí chất lãng mạn, hào hùng. phong thái. Thanh niên trí thức Hà Nội. Điều này đã được nhà thơ Quảng Đông tái hiện rất hay trong một bài thơ Tây phương với một ngòi bút phóng khoáng, giàu tình cảm và rất lãng mạn. Ở khổ thơ đầu, nhà thơ hướng đến trái tim của người lính, tức là của chính tác giả, với nỗi nhớ về mảnh đất Tây Bắc và vẻ đẹp của những người lính Tây Bắc vượt qua gian khổ.

        Xem Thêm: Vô cảm: Thật đáng sợ!

        Quang dũng sinh ra ở Hà Tây đông phương (Hà Nội ngày nay), ông là một nghệ sĩ đa tài, vừa là nhạc sĩ, vừa là họa sĩ nên thơ ông giàu nhạc tính và giàu hình ảnh. Quang Dũng cũng là một người lính xuất sắc, từng tham gia nhiều chiến trường khác nhau nên những vần thơ quân sự của ông rất chân thực, sống động, có sức truyền cảm mạnh mẽ, phong cách thơ của ông có thể tóm gọn trong mấy chữ: tự do, tình cảm, lãng mạn và rực rỡ. . Binh đoàn Tây thành lập đầu năm 1947, thành phần chủ yếu là thanh niên Hà Nội, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào, tiêu diệt quân Pháp. Địa bàn tác chiến trải rộng từ vùng yên bình, thanh bình sang các khu lụp xụp (Lào), rồi vòng sang phía Tây Thanh Hóa, phải hành quân nhiều lần, điều kiện tác chiến vô cùng khó khăn. Được sáng tác vào cuối năm 1948, quang dũng nhớ lại những ngày ở Tây quân. Ban đầu nó có tên là “Nhớ miền Tây”, sau đổi thành “Miền Tây” – một nhan đề ngắn gọn, trong sáng nhưng vẫn thể hiện rõ cảm xúc chủ đạo của bài thơ này là nỗi nhớ. Cảm hứng của bài thơ này là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

        Thiếu đại Tây Bắc, mười bốn câu đầu.

        “Mahe còn rất xa, hãy đi xa hơn về phía tây! …

        Hai dòng đầu bài thơ “Mahe đã xa, lại đi Tây! /” nhớ núi rừng, nhớ thủ đoạn, khơi dậy hoài niệm, đầy xót xa, rất chân thành về một thời đã qua, đã xa đất.. “Hoàng tử miền Tây” Và lo lắng, tay tien không chỉ là một cái tên, nó dường như đã trở thành người thân. Quang Dũng đã gọi tên “Mahe” ngay từ dòng đầu tiên của bài thơ, và địa danh ấy cũng là hiện thân tiêu biểu của vùng núi Tây Bắc. Trong cuộc hành quân, dòng sông không chỉ là một địa danh trên bản đồ địa lý mà còn là người bạn, người tri kỷ, chứng nhân lịch sử đã chứng kiến ​​bao đau khổ, vui buồn, sướng khổ của quân dân trong cuộc trường chinh. Vì vậy trong kí ức của Quang Dũng trước hết là đoàn quân miền Tây thân yêu, sau đó là dòng sông Mã Lai đầy ắp kỉ niệm ở Tây Bắc. Không những thế, trong ấn tượng, trong nỗi nhớ của nhà thơ còn có cả hình ảnh rừng núi, sông nước, quả là một nỗi nhớ “chơi” lạ lùng! Bởi đối với những người lính xuất thân từ thành phố, hình ảnh vùng núi Tây Bắc rất xa lạ, đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người lính. Quang Dũng nhắc hai lần từ “nhớ” để nhấn mạnh nỗi nhớ da diết dày vò tâm hồn, đặc biệt “nhớ chơi vơi” là cách để Quang Dũng thể hiện nỗi nhớ da diết. Đó là cảm giác cô đơn, lạc lõng, lắc lư trong nỗi nhớ xa xăm, bởi Tây Bắc xa xôi, Tây Bắc sương mù, núi rừng sương mù tuy hoang vắng nhưng rất đỗi hào hùng. . .

        Nếu hai câu đầu là nỗi nhớ thì ở mười hai câu tiếp theo, nỗi nhớ đã được nhà thơ khắc ghi trong bao kỉ niệm ấn tượng. Đầu tiên là nỗi nhớ về sài khao, mường báo trước “sài khao sương lấp đoàn quân mỏi/ mường vạt hoa về đêm”. Hai địa danh này gợi cho ta nhớ đến nơi chiến đấu của Tây quân, từ đó kéo ra pha luồng, mường hịch, mai châu và những khoảng không gian rộng lớn khác xuyên suốt bài thơ, gợi nỗi nhớ quê hương da diết. Trong cả không gian, nơi nào nhà thơ bước đi, tâm hồn nhà thơ đều cảm thấy yêu thương, lưu luyến, gợi cho câu thơ trữ tình “đâu có tình yêu trong tim”. Có thể nói, mỗi địa danh đại diện cho núi rừng Tây Bắc đã trở thành kí ức không thể phai mờ khắc sâu trong tâm trí nhà thơ.

        Hình ảnh “sương mù phủ đoàn quân mỏi”, trong sương núi rừng Tây Bắc gợi hình ảnh đoàn quân Tây Bắc trở về Mengla, đồng thời gợi vẻ đẹp lãng mạn của núi rừng, trong khi thời gian. là vẻ đẹp choáng ngợp và sự đoàn kết của những người lính. Ở người lính có cảm giác “mỏi mệt” trong xương máu, tâm hồn dũng cảm như bừng lên một sức sống mới, điều đó chứng tỏ nỗi nhớ da diết của tác giả, bởi nỗi nhớ càng nhỏ thì càng nhớ, và nhớ càng lớn thì nỗi nhớ càng nhiều. “hành quân đường dài mỏi mệt!” “Meng Pian Ye Hua”, hoa ở đây Có thể hiểu là ngàn hoa giữa núi rừng, hiện thân cho vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng chính xác hơn, hoa chính là ánh sáng lung linh của ngọn đuốc. Một tia lửa trong bóng tối đang trở lại với Môn Lắc. Hình ảnh đuốc hoa vừa gợi lại nét lãng mạn vừa gợi không khí của thời Tây…

        Sau những hồi ức của Mạnh Ly và Sài Kao là những tháng ngày hành quân gian khổ, về núi rừng Tây Bắc hiểm trở, hiểm trở.

        “Lên dốc cao hun hút mây, lên ngàn thước ngửi trời, xuống ngàn thước nhà ai mưa như trút nước”

        Từ “thơ” gợi liên tưởng đến những dãy núi dựng đứng nối tiếp nhau, một cảnh tượng không bao giờ dứt. Các từ “Nian” và “Abyss” gợi lên sự dựng đứng, ngoằn ngoèo, ngoằn ngoèo, gập ghềnh, ngoài núi rừng dốc đứng, một bên là vách núi, một bên là vực sâu. . Cả bài thơ hàm ý không gian hành quân cao rộng, người lính dốc hết sức mình vượt chướng ngại vật. Điệp từ “nghìn thước” kết hợp với nghệ thuật tương phản “lên xuống” cũng tiếp tục gợi sự cao vút của đỉnh dốc và thăm thẳm của đáy. Bài thơ đã nêu bật được hoàn cảnh hiểm nguy hào hùng của vùng núi Tây Bắc lúc bấy giờ và sự nỗ lực vượt qua khó khăn của những người lính trong địa hình thời chiến. Nhưng thiên nhiên dù hùng vĩ, trùng trùng, uốn lượn đến đâu cũng trở nên vô nghĩa dưới chân quân Tây, binh lính đã hiện nguyên hình xứng tầm thiên hạ. Chữ “Gan” tượng trưng cho sự hoang vu, lạnh lẽo của núi rừng, nơi dường như bước chân người không đặt chân đến, còn “mây” mới là do bộ đội hành quân trên núi non hùng vĩ. , thích chơi dưới chân mình, cho rằng chiến binh đi trên mây chứ không đi trên núi.

        Hình ảnh “Súng ngửi trời” là một hình tượng nhân hóa Quảng Đông thú vị và sáng tạo, người lính hành quân giữa cao điểm, mây trong tầm tay, súng khoác vai, tiếng súng sắc lạnh như xuyên thủng bên kia Một mảng trời xanh, cách nói “tiếng súng vút trời” là một cách nói bông đùa để cảm nhận được sự lãng mạn, hóm hỉnh và hồn nhiên của chú bộ đội nhỏ. Giọng điệu ở câu cuối hoàn toàn khác 3 câu đầu, giọng thơ nhẹ nhàng hạ xuống, hình dung người lính từ trên đỉnh núi nhìn xuống, thấy cảnh vật mờ ảo, nhưng đó là biểu tượng của cuộc sống, “mưa xa. ” gợi lên cảm giác trong lành của mưa trắng. Đó là vẻ đẹp lãng mạn của núi rừng Tây Bắc, đồng thời cũng gợi lên sự tĩnh lặng trong lòng người chiến sĩ, tiếp thêm động lực tiến lên phía trước.

        Sau những ngày hành quân gian khổ, Quảng Vĩnh nhớ lại sự hy sinh của một người lính Tây Viễn.

        <3

        Từ “bạn” có nghĩa là họ hàng, thân tộc, còn các từ “không đi” và “quên đời” đều là cách để thoát khỏi cái chết, là những người lính vừa xoa dịu nỗi đau mất mát, vừa nhấn mạnh sự hy sinh cao cả. Tư thế hi sinh “ngả trước họng súng” thể hiện tinh thần của người lính dù có hy sinh cũng không quên trách nhiệm. Đi đôi với tính mạng của người lính là cử chỉ gan dạ, dũng cảm, kiên quyết, là tình cảm của những người lính. Có thể nói, trong hai câu trên không chỉ có sự tiếc thương của nhà thơ đối với người đồng đội của mình mà còn thể hiện sự cảm phục trước sự hy sinh anh dũng đó. Bài thơ cũng thể hiện sự điềm tĩnh và dũng cảm của Quang Dũng khi viết về chiến tranh nhưng không hề che giấu nỗi đau mất mát một chút nào.

        Tiếp theo là hoài niệm về một thời gian khổ mà lãng mạn, được thể hiện rõ nét nhất qua 4 dòng sau:

        “Chiều nước thác hùng vĩ gầm thét. Đêm hổ trêu người, nhớ tây về Mai Châu mùa em thơm nếp hương”

        Cấu trúc thơ độc đáo, sử dụng các động từ mạnh trong câu “chiều hùng vĩ, tiếng thác gầm” thể hiện sự hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc. Hơn nữa, không chỉ ở nơi hoang vu hùng vĩ mà rừng rú nơi đây còn ẩn chứa những nguy hiểm khó lường, dũng sĩ đã viết “Đêm chơi hổ báo”, nơi rừng thiêng nước độc vẫn tồn tại. Ác thú. Đắm chìm trong hoài niệm miên man, nhà thơ chợt bừng tỉnh “Nhớ khói về tây/Mai Châu mùa em thơm hương nếp”, tây đã xa, tây bắc cũng đã xa, ra đi chỉ còn là kỉ niệm.Nỗi nhớ ở đây là có thật.Biểu hiện nghiến răng không chỉ nhớ bát cơm nồng, nhớ hương thuốc súng, ấm gạo nếp của bộ đội và dân công mà còn gợi lên một thời những năm tháng đấu tranh gian khổ mà lãng mạn. nên thơ và đẹp như tranh vẽ.

        14 dòng thơ đầu xoay quanh nỗi nhớ về núi rừng Tây Bắc, vẻ đẹp vượt qua gian khổ của người lính, đức hi sinh cao cả và chất lãng mạn trong tâm hồn con người. Hãy đứng dậy và chịu đựng. Bằng ngòi bút táo bạo, lãng mạn, giọng điệu tự do, hình tượng thơ giàu sức gợi, ông đã thể hiện một cách chân thực nhất nỗi nhớ về cuộc kháng chiến chống Nhật sâu thẳm trong lòng người lính. Phong cách lính Tây.

        Tây Du Ký Tình Yêu Đoạn 1 – Mẫu 4

        quang dũng là một trong những nhà thơ chiến sĩ tiêu biểu thời chống Pháp. Ông đặc biệt thành công trong việc viết các chủ đề về chiến binh trí thức tiểu tư sản được trau chuốt một cách khoa trương. Một trong những bài thơ viết về người lính nổi tiếng là thơ Tây.

        Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ da diết. Đó là nỗi nhớ không thể nào quên về cuộc đời của những người lính Tây Tiến được khắc họa thành công trong đoạn đầu của bài thơ

        “Sông Mahe đi đâu về phía tây, trời mưa nhà ai phương xa”

        “Tây du ký” là một trong những bài thơ hay nhất và tiêu biểu nhất của Quảng Dũng. Nói đến nhà thơ, người ta không thể không nghĩ đến phương Tây. Bài thơ này được viết vào cuối năm 1948. Lúc đó nhà thơ đang đóng quân tại một làng quê bên bờ sông Đại đầy phù sa và nhớ đơn vị cũ nên đã viết bài thơ này. Lúc đầu ông viết bài thơ này là “Nhớ miền Tây”, sau đổi thành “Miền Tây”, vì nhà thơ cho rằng chỉ có chữ “Tây” mới gợi được nỗi nhớ là cảm hứng chủ đạo, còn chữ “nhớ” đã không cần thiết. .

        Anh là một người lính trẻ tuấn tú, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, chiến đấu gian khổ giữa núi rừng nhưng cảm xúc thơ mộng, đẹp như tranh vẽ vẫn trào dâng trong lòng nhà thơ. Một tình yêu sâu nặng với miền Tây, với đồng đội, với núi rừng đã khiến ông bồi hồi, xúc động khi nỗi nhớ miền Tây trào dâng trong kí ức nhà thơ.

        “Mã giang xa thì đi tây”

        Xem Thêm : Leonor: Nàng công chúa Tây Ban Nha 16 tuổi nắm trong tay vận mệnh đất nước

        Câu thơ này như một tiếng gọi thiết tha, chân thành từ sâu thẳm trái tim nhà thơ. Quảng Đông dùng câu cảm thán ở đầu bài thơ, gọi tên cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ núi rừng Tây Bắc. Qua nghệ thuật nhân hóa, đoạn thơ trở nên đẹp một cách kì diệu. “Dòng sông Mã” không chỉ là một dòng sông, nó đã trở thành hình ảnh hiện hữu, chứng nhân lịch sử của những vui buồn, được và mất trong đời người lính Tây Tiến. “Tây Du Ký” không chỉ là tên gọi một đơn vị quân đội, mà còn là “người bạn” để nhà thơ gửi gắm nỗi niềm.

        “Chớ quên núi, chớ quên chơi”

        Từ “ji” trong câu thứ hai được lặp lại hai lần thể hiện sự tái hiện và nỗi nhớ trào dâng trào dâng trong trái tim dũng cảm. Sự kết hợp giữa tính từ “chơi vơi” và từ “nhớ” đã khắc sâu nỗi nhớ của nhà thơ, nỗi nhớ tràn về tâm trí nhà thơ như thác đổ, đẩy ông đến trạng thái bâng khuâng. Hai dòng đầu và cách sử dụng từ ngữ giàu sức gợi, chọn lọc đã mở ra cánh cửa cho nỗi nhớ da diết trong tâm hồn nhà thơ

        “Sài Long Lữ đêm hoa quân mỏi, hơi nghiêng khúc quanh dốc, hít mây ngửi trời”

        quang dũng liệt kê hàng loạt địa danh như: sài khao, mường lạt, pha Luông…, đó là địa bàn hoạt động của quân đoàn miền Tây, những nơi chúng đã đi qua và dừng chân trên đường đi. – làm việc, quân đội mệt mỏi. Nói đến Tây Bắc là nói đến vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Trong đêm dài hành quân, các chiến sĩ Tây quân hành quân vất vả trong sương mù dày đặc, không nhìn rõ mặt nhau. “Quân mệt” nhưng tinh thần không “mệt”. Quyết tâm du học càng khiến người trí thức yêu nước thêm kiên cường. Quang Dũng đã khéo léo đặt hình ảnh “sương mù” vào đây để diễn tả rõ hơn sự khắc nghiệt của đêm dài giá rét ở vùng núi Tây Bắc. Cũng miêu tả về “The Mist”, Lanveen cũng viết trong “Song of the Ship”:

        “Nhớ Lulu, nhớ đèo mây mù, khi ở mà lòng không yêu, khi đi chỉ là chốn đất, đất thành hồn”

        Có lẽ chính vì thiên nhiên rất gắn bó với người lính Tây Bắc này nên nó đã trở thành một kỉ niệm khó quên trong lòng nhà thơ. Thiên nhiên tươi đẹp, nhưng cũng rất nguy hiểm. Xưa có lính Tây cố hết sức lên tới đỉnh mây. Quang Dũng đã khéo dùng từ “sâu” mà không dùng từ “cao”, bởi nói “cao” vẫn có thể cảm nhận và thấy được độ sâu của nó, mà độ “sâu” thì khó ai làm được. Tưởng tượng sao mà sâu lắng, với những từ láy có sức gợi mạnh như “quanh co”, “sâu”, “ngọt ngào” cho người đọc cảm nhận được cái man dại, dữ dội trong bài thơ. Nhà thơ cũng rất trẻ trung, tinh nghịch trong hình ảnh nhân hóa Hình ảnh ẩn dụ “súng ngửi trời” cho ta thấy ngoài khung cảnh thiên nhiên hiểm trở còn có hình ảnh người lính dũng mãnh. rừng, đa âm Các câu thơ tạo nên một hình ảnh kiệt quệ, nhấn mạnh sự hiểm trở của cảnh sắc thiên nhiên Tây Bắc.

        “Nghìn thước lên, ngàn thước xuống”

        Điệp từ “Nghìn thước” mở ra một không gian từ trên xuống, từ dưới lên, thật hùng vĩ, thật rối rắm. Ngoài sự hiểm trở, hoang sơ, ta còn thấy được vẻ đẹp trữ tình của núi rừng:

        “Ai đang mưa ở phương xa”

        Trời bất chợt đổ mưa trong rừng, để lại bao nhiêu giá lạnh cho những người lính đang tiến về phía Tây. Nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng, nó trở nên lãng mạn và trữ tình hơn. Nhà thơ sử dụng “mưa xa” để miêu tả cơn mưa trong rừng thật tài tình và sáng tạo. Nó gợi lên một cảm giác rất huyền bí, hoang sơ giữa núi rừng. Đoạn 8 có nhiều thanh điệu bằng phẳng dường như làm dịu đi sự hiểm trở của núi rừng và mở ra một bức tranh núi rừng thơ mộng. Tám câu đầu của “Tương Tây” là nỗi nhớ nhung núi rừng Tây Bắc, Tây Bắc nhưng qua những chi tiết cụ thể của núi rừng Tây Bắc đã trở thành một kí ức xa xăm trong tâm trí tôi. Đó là một nỗi nhớ da diết, nhất là đối với người lính Tây phương, nhưng người lính nói chung.

        Mặc dù gặp vô vàn khó khăn trở ngại trong suốt chặng đường hành quân nhưng chúng tôi vẫn thấy ở các bạn lòng dũng cảm vô song. Đoàn quân vẫn tiến lên, nối tiếp nhau hành quân. Sức mạnh của thiên nhiên dường như bị suy yếu, và giá trị của con người dường như được nâng lên một tầm cao mới. Quang dũng cũng nói về sự hy sinh của đồng đội trong cuộc hành quân vô cùng gian khổ:

        <3

        “Tây tiến” từng không được đưa vào chương trình giảng dạy vì tác phẩm đề cập đến một đề tài nhạy cảm của văn học Việt Nam thời chiến, đó là viết về cái chết và sự hy sinh. Chúng tôi biết rằng để thuyết phục mọi người, trước hết văn học phải là sự thật. Dù là chiến tranh nhưng Kuang Yong không bận tâm và trốn tránh sự thật đau lòng. Khiến “Tây tiến” một lần nữa được đưa vào chương trình giảng dạy như một kiệt tác văn học. “Anh ơi” phát ra hai tiếng nấc nghẹn ngào. Đoạn thơ tập trung vào từ “dầu nhỏ giọt” thể hiện sự gian khổ, khó khăn trên đường hành quân. Đặc biệt, tác giả không viết “ngã xuống” mà viết “không còn bước nữa”, hai anh em chuyển từ bị động sang chủ động, chấp nhận cái chết đơn giản như một giấc ngủ. đừng bận tâm. “Mũ súng” là biểu tượng của người lính, nghĩa là dù có ra đi cũng không quên mình còn là người lính, dù có ngã xuống cũng phải “hạ” xuống mũ lính. của sự hy sinh bi tráng nhưng anh dũng. Hình ảnh người lính anh dũng hy sinh sau này được thấy trong “Vietnam War Pose”:

        “Và rồi tôi chết đứng đó, máu tôi phun ra ngọn lửa cầu vồng”

        Xem Thêm: Lời bài hát Tết Đong Đầy [ Kay Trần – Karaoke]

        Hình bóng những người lính dẫu đã ngã xuống vẫn còn mãi trong lòng người Quảng Đông, Tây Tiến và những người tham gia Kháng chiến. Họ chết trên đường hành quân, có chiến sĩ ngã xuống, rõ ràng là súng nổ, và người Việt Nam cũng đổ máu, chiến tranh đâu phải trò đùa, có người chết, có người chết, đó là chuyện bình thường. Người lính bỏ đi, nhưng đồng đội của anh ta theo sau. “Quên đời” là cách giảm thiểu mất mát, đau thương. Cái chết bây giờ là tầm thường khi những người lính chết. Lời kể này bớt đi phần buồn tẻ và thêm phần cao cả, sự hy sinh thầm lặng của những người lính Tây Phương. Qua lăng kính lãng mạn của tác giả, sự hy sinh này như giấc ngủ của người lính. Ông đã khéo léo miêu tả cái chết của một người lính nhẹ như lông hồng. Tuy nhiên vẫn không thể diễn tả hết nỗi buồn đau xót xa nên tác giả đành phải đặt dấu chấm than “!” ở cuối câu như thắp nén nhang.

        ——Khó khăn chưa dừng lại ở đó, Tây Bắc không chỉ có đèo cao hay đại ngàn sông núi mà còn có nhiều thử thách ghê gớm hơn. Hành trình của bạn xuyên qua núi rừng Tây Bắc đầy hoang sơ và bí ẩn, như thể bạn đang thử thách bước chân của những người lính:

        “Thác chiều gầm, hổ rình mồi đêm”

        quang dũng chọn hai mốc thời gian là “chiều” và “tối”, đây là khoảng thời gian nguy hiểm nhất của núi rừng Tây Bắc, hiểm nguy cứ lặp đi lặp lại theo chu kỳ, ngày nào chúng ta cũng phải đối mặt với những khó khăn, hiểm nguy ấy. Thường thì họ phải hành quân qua rừng thiêng nước độc, để tiếng thác gầm gào dữ dội ám ảnh tâm hồn họ. Ở những nơi xa xôi, làm chủ thiên nhiên khó như sinh sản. Độ nặng của “mường hịch” cộng với chữ “hí” thể hiện bước chân nặng nề, có bóng hổ vờn người, hổ ăn thịt người, hổ xé xác, hổ giết người. Nhưng xét về lòng dũng cảm của các chiến sĩ thì quả bóng nổ chỉ là trò đùa của trẻ con, đây là cách thử thách lòng dũng cảm và sức chịu đựng của các chiến sĩ qua từ “trêu ghẹo”. dừng lại.

        Và trong những câu thơ này, tác giả đã miêu tả rất chân thực rằng chúng ta tuy không ở thời đại này nhưng chưa từng đặt chân lên Tây Sơn, cũng chưa từng gia nhập Tây quân. . Nhưng đọc tác phẩm ta mới hiểu được những gian khổ mà người lính đã trải qua. Kết thúc khổ thơ đầu, nhà thơ kết thúc bằng hai câu kết nỗi nhớ, nỗi nhớ tràn về miền quê Tây Bắc thân yêu:

        “Nhớ mùa hương thơm nếp, ta khói Mai Châu”

        Lần thứ hai tác giả gọi tên đoàn quân đi Tây trong bài thơ, phải chăng tác giả còn nhớ những gian khổ, kỉ niệm sát cánh cùng đồng đội trong kháng chiến chống Nhật nên dũng cảm? Chỉ cần nói một cái gì đó như “nhớ đi về phía tây”. Sau chặng đường hành quân dài mệt mỏi, những người lính đã có dịp dừng chân và dựng trại tại Mai Châu, một bản làng có cái tên trìu mến. Tại đây, những cô gái dân tộc trẻ trung, xinh đẹp mang đến cho anh em những hạt nếp dẻo thơm, anh em ngồi bên nồi nếp, để bao vất vả, khó khăn tan biến. Đó là khung cảnh thắm đượm tình quân dân, chiến tranh lùi vào một góc khuất nhường chỗ cho khung cảnh sinh hoạt vui tươi. Sau khi đi bộ một quãng đường dài lên lưng chừng núi, tôi rất đói và khát. Hôm nay, người dân Mai Châu chào đón bạn bằng không khí ấm cúng của “cơm lam”, “cơm nếp”. Quang Dũng dùng từ “Mùa con” để nói lên tình cảm gia đình, tình cảm gắn bó, chẳng khác gì “huynh đệ”, người cựu chiến binh nhớ bóng hoa màu, nếp thơm, núi hồng.

        Bài thơ “Tây Tiến” được viết bởi ngòi bút Quảng Đông lãng mạn và trữ tình đã trở thành một kiệt tác muôn thuở. Cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ da diết. Quang Dũng dùng ngòi bút điêu luyện, giàu nhạc, họa, thơ để miêu tả nỗi nhớ này. Thơ là bài ca của tâm hồn, là bài ca của cuộc đời. Vì vậy, Hoàng đế Xuân cho rằng đọc bài thơ “Tây tiến” giống như nắm giữ động tác trong miệng. Bài thơ này hay là vì nó được viết bằng một bút pháp đậm chất lãng mạn, của một người lính Tây tiến nên có một cảm xúc rất riêng và rất đẹp. Là một người lính, anh ấy có thể viết những bài thơ hay như vậy.

        Trải nghiệm miền Tây đoạn 1 – Ví dụ 5

        quang dũng là một nghệ sĩ đa năng, ông có thể làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, soạn nhạc, nhưng thành công nhất là thơ. Ông là nhà thơ nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam, có tâm hồn lãng mạn, thơ mộng, thơ ông giàu nhạc tính, được mệnh danh là thi sĩ của “xứ sở Mây Trắng”. Chẳng hạn như: “Mây đội đầu ô”, “Thơ Quảng Đông” v.v…, trong đó tiêu biểu là bài “Tây tiến”. Bài thơ này không chỉ là nỗi nhớ Quảng Đông về Tây quân mà còn miêu tả rõ nét cuộc hành quân gian khổ của Tây quân và khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang vu, dữ dội của Tây qua những câu thơ:

        “Mahe về miền Tây xa xôi…Mai Châu mùa em thơm hương nếp”

        Bài thơ “Tiến Tây” ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt. Tay tien là một đơn vị bộ đội được thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt Lào, đánh thắng quân thù. Lính miền Tây đa phần là thanh niên, sinh viên, trí thức Hà Nội, chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn nhưng họ sống rất lạc quan, chiến đấu rất dũng cảm. Quang Dũng là đại đội trưởng đội tây tiến. Cuối năm 1948, rời đơn vị cũ chưa được bao lâu, Quang Dũng đã viết bài thơ “Nhớ miền Tây” bằng luu vôi. Khi tái bản, tác giả đổi tên bài thơ là “Tây Du Ký”.

        Bắt đầu bằng một câu thơ đầy hoài niệm, lời bài hát như chợt thể hiện sự hoài niệm, tiếc nuối:

        “Mã Giang Nguyên, đi xa về phía tây, nhớ núi rừng, nhớ rong chơi”

        Bãi sông như một tiếng gọi chân thành ngọt ngào nhắc nhà thơ nhớ về đoàn quân đánh Tây. Sự kết hợp tài tình của nhà thơ giữa từ “chơi” và vần “ơi” đã mở ra một không gian hoài niệm tuyệt vời, đồng thời cũng thể hiện một cách tinh tế một cảm xúc mơ hồ, khó định nghĩa. Nỗi lòng hụt hẫng, nhưng cũng là tình cảm chân thành của một người đồng đội rời xa đơn vị, để rồi nỗi nhớ dường như tràn ngập cả không gian “nhớ rừng nhớ chơi nhau”. Một bài thơ bảy ký tự có hai ký tự cho “ji”. Chữ “Yi” như muốn nhấn mạnh cảm xúc của bài thơ, và không phải ngẫu nhiên mà nhan đề ban đầu của bài thơ được tác giả đặt là “Yi Xi”. Và rồi nỗi nhớ ấy cứ trở đi trở lại suốt bài thơ tạo nên âm hưởng da diết, da diết. Nỗi nhớ nhung, tình cảm sâu nặng của nhà thơ đối với miền Tây, với những người đồng đội năm xưa đã trở thành những kỉ niệm khó quên.

        Không phải cứ đến “Tây” là bạn sẽ luyến tiếc, mà ngay cả khi nó được nhắc đến trong thơ ca Việt Nam, nó vẫn được miêu tả như thế này:

        “Tôi nhớ có người đứng bên đống lửa mà háo hức như ngồi trên đống than”

        Nhưng đến với Quang, nỗi nhớ da diết là sáng tạo nhất, nỗi nhớ “chơi vơi”, đó là trạng thái cô đơn, không gắn bó, nỗi nhớ cô đơn bồng bềnh, sâu lắng, buồn bã, rạo rực hy vọng trong đó sẽ không bao giờ quên được trong tâm trí người đọc. Nỗi nhớ xuyên thời gian và không gian, đưa người đọc lạc vào thiên nhiên Tây Bắc Trung Quốc hùng vĩ, hung dữ mà êm đềm, đượm hương thi vị. Đó là những nơi đoàn quân tây tiến đi qua, “sài khục”, “mường lam”, “pha luồng”, “mường hịch”, “mai châu”. Nơi đi vào thơ ca Quảng Đông không còn là những gam màu trung tính, vô hồn trên bản đồ, mà gợi lên trong lòng người đọc cái không khí xa xôi, lạ lẫm, hoang vu, huyền bí của núi rừng.

        Không chỉ vậy, con đường còn đầy rẫy những nguy hiểm:

        “Sai Long Lu Ye lấp đầy đội quân mệt mỏi bằng hoa”

        Trên đường hành quân gian khổ, khi sương mù dày đặc “che phủ” đầu cả đoàn quân, Quang Dũng đã dùng từ “mỏi” như muốn tái hiện hình ảnh đoàn quân kiệt quệ nhưng vẫn hiên ngang bước đi trong “sương mù” oai hùng và tráng lệ. Không chỉ ở đó, cảnh đêm như sương giăng khắp không gian. Tác giả không nói “hoa nở” hay “hoa về” hay sương mà nói “đầy sương”, nhấn mạnh vẻ đẹp tinh thần lãng mạn, hào nhoáng của những người lính trong thành phố.

        Đường hành quân còn vô cùng gập ghềnh, hiểm trở, một bên là núi, một bên là vực thẳm:

        “Lên dốc lên dốc, khói mây triền dốc, lên ngàn mét ngửi trời, xuống ngàn mét ngửi trời”

        Không gian được mở ra nhiều chiều: từ độ cao đến độ sâu hun hút của sườn đồi, độ sâu của vực thẳm, độ rộng của thung lũng hiện ra sau màn sương. Lời văn tạo cho người đọc hình dung ra con đường quanh co, dốc đứng và những đỉnh núi hoang vu ẩn hiện trong mây. 4/3 ngắt nhịp “lên cây số, xuống cây số”, tạo thành nét chữ ngoằn ngoèo hình quả núi. Vì vậy, ba câu liền nhau trong bài thơ sử dụng nhiều thanh trắc để gợi lên nỗi gian khổ của những người lính Tây tiến trên đường hành quân.

        Nếu ba câu thơ trên là một cảm giác thăng trầm thì câu thơ tiếp theo như một khoảnh khắc tĩnh lặng khi người lính Tây tiến về đình núi, như cánh buồm căng gió. Mưa lấp đầy thung lũng và đi vào “khoảng cách”. Đọc bài thơ này, người đọc cảm nhận được một sự bình yên đến lạ lùng, những khoảnh khắc hiếm hoi tiếp thêm sức mạnh cho người lính. Tiếp tục đánh giặc, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt nơi đây:

        “Chiều thác hùng vĩ Đêm hổ gầm dân chơi”

        quang dũng nhớ tiếng “gầm” của thác ác, tiếng hổ gầm dữ tợn rình rập, như muốn ăn tươi nuốt sống quân sĩ mỗi chiều đêm. Buổi chiều và tối càng nhấn mạnh thêm vẻ hoang sơ của “Bóng Gỗ Cổ”. Nhà thơ sử dụng những từ ngữ, hình ảnh nhân hóa để nhấn mạnh ấn tượng về một vùng đất hoang vu hung dữ, nơi thiên nhiên hoang dã ngự trị và chiếm lĩnh.

        Chỉ với mấy dòng thơ, Quảng Đông đã tái hiện trọn vẹn núi rừng miền Tây bằng những nét bút hiện thực, lãng mạn, giàu tính nghệ thuật và nhạc tính. Những nét vẽ vừa khỏe khoắn, mạnh mẽ, vừa dữ dội, vừa mềm mại tạo nên vẻ đẹp hài hòa cho bức tranh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ của đoàn quân Tây tiến. Bài thơ này không chỉ là nỗi nhớ thiên nhiên miền Tây, mà trung tâm của nỗi nhớ ấy còn là những người lính, những người đồng đội năm xưa đã anh dũng hiện lên với vẻ đẹp bi tráng trên chặng đường chông gai, hiểm nguy.

        Ấn tượng mà người lính hành quân về tây trong lòng người đọc có lẽ là bởi vẻ đẹp lạc quan được bộc lộ trong cuộc hành quân gian khổ qua những câu thơ đầy màu sắc quân ngũ:

        “Ngửi hương rượu, ngửi hương trời”

        Sử dụng lối nói hóm hỉnh “tiếng súng chỉ thiên”, tác phẩm thể hiện hình ảnh tinh nghịch, lạc quan, hồn nhiên giữa khổ đau. Nếu viết “súng vươn trời” thì nhà thơ chỉ viết độ cao của đỉnh dốc, còn súng của lính Tây tiến như chạm trời. Ở đây, quang dũng gợi lên “chất quân tử” trẻ trung, tươi tắn, tràn đầy sức sống của tâm hồn người lính Tây phương xuất thân từ những người trí thức trẻ Hà Nội. Đồng thời cũng mang đến cho người đọc sự mới lạ và hóm hỉnh về người lính, nhân hóa đầu mũi súng của người lính thành “khẩu súng” tinh nghịch, nên thơ và lãng mạn, khẳng định ý chí của anh. Đỉnh cao quyết tâm chinh phục mọi thứ của người lính đưa người đọc đến với câu thơ của Tố Hữu:

        “Anh chụp hay lúc chiều tà, bóng dài trên đỉnh dốc che không nổi vai vươn lá ngụy trang, theo gió leo”

        Và trong cuộc hành quân ấy, dù với vẻ ngoài lãng tử, tinh nghịch nhưng người lính miền Tây cũng không tránh khỏi sự thật rằng mình có đồng đội chung tay:

        “Bạn béo đi không nổi, ngã mũ sắt quên sống”

        Nói về cuộc chiến bi thảm đó. Tác giả không né tránh hiện thực đau thương mất mát trong chiến tranh. Trong cuộc hành quân gian khổ, có người đã gục ngã vì kiệt sức. Đối với súng của kẻ thù. Ngược lại, Quảng Đông thể hiện một kiểu nói nhẹ nhàng, trốn tránh cái chết, vừa buồn vừa kiêu ngạo, “không bước nữa”, rồi “quên đời” là một kiểu bình tĩnh, bình tĩnh đón nhận cái chết, coi cái chết như lông hồng. Những đồng đội đã ngã xuống được tưởng nhớ, nhưng nó không gợi lên cảm giác đau buồn. Hơn cả là mất mát, thương cảm, thốt lên bằng một giọng thơ thất ngôn, kiêu hãnh “nằm trên chiến giáp, quên đời”. Đó là một tư thế liều chết trên chiến trường, ngang nhiên tiến lên.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *