Phân tích khổ thơ đầu bài Việt Bắc (Tố Hữu) – Đọc Tài Liệu

Phân tích khổ thơ đầu bài Việt Bắc (Tố Hữu) – Đọc Tài Liệu

Khổ 1 việt bắc

Phân tích bài đồng dao Việt Nam – Sưu tầm, tổng hợp các bài văn mẫu hay phân tích nội dung bài đồng dao Việt Nam. p>

Bạn Đang Xem: Phân tích khổ thơ đầu bài Việt Bắc (Tố Hữu) – Đọc Tài Liệu

Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu (8 câu đầu) bài thơ “Việt Bắc – Độc Cô Cầu Bại”.

***

Tuyển tập những bài văn mẫu phân tích đoạn thơ đầu Việt Nam hay nhất

Mô hình 1:

Nhắc đến yếu tố người ta liên tưởng ngay đến hình ảnh một nhà thơ luôn đi đầu trong phong trào văn nghệ cách mạng nước nhà. Con đường thơ phú luôn gắn liền với những hình ảnh, sự kiện nổi bật của dân tộc. Bằng giọng thơ tình cảm và sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lối viết chính luận và biểu hiện, ông đã tạo nên bài thơ Việt Bắc, được ca ngợi là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp, chống Nhật. Đặc biệt, chỉ qua khổ thơ đầu, ông đã đưa người đọc đến với mảnh đất Việt Nam đầy nắng, gió và gian khó, chan chứa tình nghĩa.

Việt Bắc Được thành lập vào tháng 10 năm 1954, đây là thời kỳ chuyển tiếp khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, cán bộ, chiến sĩ rời chiến khu Việt Bắc trở về Việt Nam. Trở về thủ đô Hà Nội. Chiến tranh kết thúc trong tiếng cười hòa bình, độc lập nhưng cũng đồng nghĩa với sự chia ly của người cán bộ với nhân dân Việt Nam. Ở đó, quần chúng và cán bộ đã cùng nhau trải qua muôn vàn khó khăn, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. Thơ Việt ra đời là để bày tỏ cảm xúc của con người sống bên ngoài.

Mở đầu đoạn trích, tác giả đã thay lời người ở lại để thể hiện tình cảm của mình:

“Khi anh về em nhớ anh

Mười lăm năm ấy mặn nồng

Bạn có nhớ khi tôi quay trở lại

Trông cây chẳng trông núi, trông sông chẳng nhớ nguồn?

i – ta thường được dùng để diễn tả quan hệ thân mật như vợ chồng. Tuy nhiên, tác giả dùng cặp từ này cho cùng một quân bài việt bắc là lính và sĩ quan. Họ không phải là vợ chồng nhưng mối quan hệ giữa đôi bên cũng vì thế mà bế tắc, day dứt. Em có nhớ cây, nhớ sông, nhớ nguồn không? Từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần trong câu hỏi tu từ để khắc sâu vào tâm trí người đọc. “Mười lăm năm” là một chi tiết có thật, từ những năm 1940 đến nay, chúng tôi cùng ăn, cùng cười, cùng nhau phấn đấu hơn mười năm. So với các cuộc kháng chiến khác, mười lăm năm ấy không phải là dài. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là thời gian đó đã bồi đắp và bồi đắp bao nhiêu cảm xúc đến mức có thể lấp đầy cả một đời người. Câu hỏi chất chứa bao nỗi nhớ, bao lời dặn dò của người ở lại đối với người ra đi. Về với phố thị náo nhiệt, mong bạn đừng quên “nguồn sông núi đây”. Cảnh vật xơ xác đã đồng hành cùng “tôi” và “tôi” bao năm tháng, dù là lúc vui hay lúc buồn. Cây cối, sông nước là biểu tượng của không gian miền xuôi, miền cao đầy núi non nguồn. Cuộc chia ly có thể bị cản trở bởi khoảng cách, nhưng “em” luôn mong rằng “em” sẽ không bao giờ quên những kỉ niệm ấy. Yếu tố đặc biệt sử dụng những từ như “thèm” và “mặn” để tăng thêm giá trị cho những cảm xúc đó. Nó quý giá biết bao, khiến người ta phải đánh mất và tiếc nuối.

Nếu như với người ở lại, tình cảm ấy chứa đựng trong ngàn lời nói, thì người ra đi chỉ có thể thể hiện tình cảm của mình bằng hành động. Với tình cảm đó, họ quá hiểu người Việt Nam. Vì đại nghĩa của đất nước còn đang chờ đợi các anh, các anh buộc phải ra đi, dù không thể cũng phải tránh xa:

“Có tiếng nghiêm trang bên ly rượu

Bụng kêu cồn cào, bước đi loạng choạng

Cặp từ ghép “xót xa” và “bồn chồn” diễn tả trạng thái tâm lí của nỗi nhớ da diết khiến lòng người không thể yên. Như tu bon đã viết:

“Còn nhớ ai, ai còn nhớ ai, giờ còn ai? >……

Chữ “thương” chứa đựng quá nhiều tình thương, không thể chỉ một người, vì tình thương ấy là của cả đồng bào Việt Nam. Tố đã chơi hết mình tiếng “này”, để lại dư âm vang dội trong lòng người về. Nó khiến tâm trạng càng thêm nôn nao, dòng cảm xúc cứ ùa về. Và những nỗi nhớ nhung ấy chỉ có thể ôm chặt trong lòng, không thể dùng lời nói để diễn tả nỗi buồn, không thể hét lên để giải tỏa nỗi buồn.

Tâm trạng bồn chồn còn được thể hiện rất tinh tế qua nhịp điệu của hai câu tiếp theo:

“chàm mang đến cuộc gặp gỡ chia ly

Xem Thêm : Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ 20 đến cách

Nắm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Cặp thơ lục bát này được tác giả thêm vào một chút nhịp điệu, như sự đảo nhạc. Màu “chàm” là màu đại diện của đồng bào miền núi Tây Bắc. Hình ảnh quê nghèo rất đỗi bình dị mộc mạc, thiếu thốn về vật chất nhưng luôn dạt dào tình cảm. Chiếc áo ấy đã gánh biết bao mồ hôi, gian khổ, một nắng hai sương để chiến đấu, nuôi dưỡng những người lính già, để họ yên tâm đánh giặc. Không phải là áo gấm, áo gấm để tiễn đưa công ơn Người, chỉ là hình bóng của người dân lao động, nhưng vẫn làm ta bồi hồi, biết ơn. Tình cảm này còn được thể hiện qua hình ảnh “nắm tay nhau”. Bàn tay người cầm súng ấm áp, vuốt ve bàn tay người lao động. Đôi bàn tay nặng nhọc, mỏi mệt vì những khó khăn khác nhau, nhưng lúc đó, tất cả chúng tôi đều cảm thấy như nhau. Hình ảnh phong phú và cảm động, không cần giải thích nhiều, vì có quá nhiều điều muốn nói, nhưng tôi không biết bắt đầu từ đâu. Trái tim ấy xin hãy để “em” được chôn chặt trong tim nhưng cảm giác “nắm tay” sẽ còn mãi.

Xem Thêm: Hàng authentic, auth là gì? So sánh hàng auth, fake, replica

Những dòng mở đầu của bài hát Việt Bắc miêu tả những cảm xúc sâu sắc và đa dạng của những người dân sống trong và ngoài nước. Nhịp thơ mềm mại, du dương, thể hiện đầy đủ và tinh tế những tình cảm chân thành đó, thể hiện tài năng xuất chúng của tác giả trong số các thi nhân tài hoa của Việt Nam.

Xem thêm các bài viết mẫu cho loại chủ đề này Nhận xét về 3 phần đầu của bài viết tiếng Việt Tốt hơn nên đọc tài liệu đã chọn.

Mô hình 2:

Tố Hữu là ngọn cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ ông mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng trữ tình lãng mạn. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị như tập thơ “Lời ấy”, “Máu và hoa”… Tiêu biểu nhất là bài thơ “Lời ấy” “Lời ấy” “. Bài thơ thể hiện thành công nỗi nhớ da diết, nỗi nhớ da diết trong buổi chia tay của người Việt Bắc với người cán bộ cách mạng. Điều này được thể hiện rõ nhất trong bài thơ:

“Khi anh về em nhớ anh

Xem Thêm : Thanh tịnh và tĩnh tâm với không gian thiết kế theo phong cách Zen

Mười lăm năm ấy đầy đam mê.

Bạn có nhớ khi tôi quay trở lại

Trông cây chẳng trông núi, trông sông chẳng nhớ nguồn?

Giọng ai nghiêm trong rượu

Bụng kêu cồn cào, bước đi loạng choạng

Áo chàm chia ly

Nắm tay nhau biết nói gì hôm nay…

Việt Bắc là căn cứ địa cách mạng, cái nôi của các phong trào kháng chiến. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết. Tháng 10 năm 1954, đảng và chính phủ rời Chiến khu trở về Hà Nội. Nhân sự kiện lịch sử đó, Người đã viết bài thơ “Việt Bắc”.

Câu thơ mở đầu là một câu hỏi tu từ giàu cảm xúc:

“Tôi sẽ nhớ bạn khi tôi trở lại”

“Tôi” là chỉ người ra đi – chiến sĩ cách mạng, còn “anh” là người Việt Bắc. Câu hỏi chính là lời của người ở lại Hỏi người ra đi, khi người chiến sĩ cách mạng trở về có còn nhớ Việt Bắc không? Với cách gọi “me-ta” đầy chất thơ, kèm theo những lời nhắn nhủ bản thân, cho ta thấy tình cảm gia đình, tình yêu thương khiến nỗi nhớ càng thêm day dứt. Người Việt Nam muốn hỏi Kháng chiến có nhớ không:

“Mười lăm năm ấy máu sôi”

Mười lăm năm đồng nghĩa với thời gian, thời kỳ người lính và người Việt Bắc trở thành bạn của nhau. Chúng tôi đã chiến đấu cùng nhau trong một thời gian dài và cùng nhau vượt qua nhiều khó khăn. Từ “ấy” nghe cũng hay nhưng tác giả đã không dùng từ “ấy” để tăng thêm ý nghĩa cho khoảng thời gian “mười lăm năm”, đồng thời cũng thể hiện sự trân trọng của tác giả đối với những ngày tháng còn phụ. Các từ “háo hức”, “mặn nồng” đã nhấn mạnh tình cảm gắn bó giữa đồng bào Việt Bắc với những người cách mạng. Tác giả muốn dùng điều này để nhấn mạnh thêm lòng trung kiên, thủy chung với cách mạng và với những người lính nhân dân Việt Nam.

Câu tiếp theo nhắc nhở người chiến sĩ cách mạng:

“Em có nhớ khi anh về không”

Xem Thêm: Bài thể dục 45 nhịp lớp 9

Vẫn là câu hỏi tu từ, vẫn là cách xưng hô “tôi”, nhưng câu hỏi nghe như nhắc nhở “anh có nhớ không”. Nếu đồng bào Việt Nam muốn nhắc nhở các chiến sĩ cách mạng trở về Việt Nam nhớ ra Bắc, xin mời:

“Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”

Khi các chiến sĩ cách mạng về Hà Nội, nhìn thấy cây cối xanh tốt ở Hà Nội, họ sẽ nghĩ đến núi rừng Việt Bắc. Nhớ về nơi nghĩa tình, màu da, người cách mạng và đồng bào Việt Bắc đã cùng nhau chiến đấu, cùng nhau vượt qua muôn vàn khó khăn. Nhớ sông nhớ nguồn, nhớ sông núi Việt Nam, nhớ những dòng sông mà các chiến sĩ cách mạng đã chiến đấu. Hay đó là lời nhắc nhở của đồng bào Việt Bắc với các chiến sĩ cách mạng, khi trở về sẽ thấy cảnh đẹp thành phố, nhớ con người Việt Bắc, nhớ những ngày chiến đấu. Rừng núi đầy rẫy hiểm nguy, cheo leo khó khăn. Các từ “thấy”, “nhớ” như nhấn mạnh nỗi niềm của những người ở lại. Mong những người cách mạng mãi nhớ nơi Việt Bắc. Ngoài kia có những người trung kiên, trung thành, luôn khao khát những người cách mạng.

Bốn câu đầu là lời văn xuôi của người Bak ở Việt Nam. Các phép đối đáp, ẩn dụ, thán từ “me-ta”, đặc biệt kết hợp với câu hỏi tu từ thể hiện tình cảm gắn bó nồng hậu, thắm thiết, thủy chung của người dân Việt Bắc. Qua đó ta cảm nhận được những đức tính tốt đẹp của con người nơi đây. Dù gian nguy, hiểm nguy, thiếu thốn nhưng tình yêu của họ đối với những người lính vẫn luôn như vậy, luôn rạo rực, nồng nhiệt và nồng nàn.

Cái hay của bài thơ này không chỉ nằm ở lời của người Việt Nam, mà còn ở câu trả lời của người cách mạng đối với người Việt Nam:

“Có tiếng nghiêm trang bên ly rượu

Đi bộ khó khăn

Áo chàm chia ly

Xem Thêm : Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ 20 đến cách

Nắm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Đại từ nhân xưng “ai” vang vọng tiếng nói của người Việt Nam, như gọi tiếng người lính ở lại, tiếng người lính không nỡ ra đi. Từ “chân thành” như làm cho tiếng gọi ấy to hơn, sâu hơn, cho ta cảm nhận được tình hữu nghị sâu sắc giữa Việt Nam và những người cán bộ cách mạng. Câu tiếp theo rõ ràng hơn:

“Nói thầm trong bụng, bước đi không yên”

Từ “xót xa”, “xót xa” chỉ tâm trạng của người đã khuất. “Sầu” là một trạng thái dai dẳng, như vẫn còn một điều gì đó đang lơ lửng trong sâu thẳm cảm xúc của mỗi người. Làm cho mọi người cảm thấy không thoải mái, “không ổn định” đề cập đến tâm lý bất an của mọi người, chẳng hạn như lo lắng về điều gì đó. Tất cả tạo nên tâm trạng của người chiến sĩ cách mạng trở lại tiền tuyến, đồng thời cũng mang theo nỗi nhớ nhung, đau đáu, khắc khoải của người cán bộ cách mạng. Qua đó ta thấy tình cảm của các nhà cách mạng đối với Việt Nam cũng sâu nặng như tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với họ.

Hai câu cuối là cảnh chia tay đầy nước mắt giữa người chiến sĩ cách mạng và đồng bào Việt Nam:

“chàm mang đến cuộc gặp gỡ chia ly

Xem Thêm : Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ 20 đến cách

Nắm tay nhau biết nói gì hôm nay”

“Chiếc áo chàm” là màu áo nâu, màu của những người nông dân nghèo khổ quanh năm cần cù phục vụ cách mạng. Hình ảnh hoán dụ “Áo dài” chỉ người Bắc Việt. Người Việt Bắc đi tiễn cách mạng, người cách mạng trở về với bao nhớ nhung. Từ “chia tay” có nghĩa là chia tay là chia tay. Dường như họ không muốn xa nhau, nhưng vì hoàn cảnh, họ phải chia xa và bỏ nhau ở những nơi khác nhau. Qua đó thể hiện nỗi tiếc thương da diết, khẳng định tình cảm sâu nặng của người chiến sĩ cách mạng và đồng bào Việt Bắc. Tình cảm ấy càng được thể hiện rõ hơn ở câu thơ cuối:

“Hôm nay chúng ta nắm tay nhau nói chuyện”

Không phải là không có gì để nói, mà là có quá nhiều điều để nói, và bạn không biết phải nói gì trước, từ “biết phải nói gì” đã minh họa điểm này. Mười lăm năm bế tắc, mười lăm năm sát cánh cùng nhau trải qua bao thăng trầm, tình cảm sâu đậm biết bao, biết bao điều muốn nói mà sao không nói ra được, nghẹn ngào nơi cổ họng, chỉ biết nói lời chia tay trong nước mắt. Không thể nói là chỉ có thể nắm tay nhau, chỉ riêng hành động “nắm tay” thôi đã khiến chúng ta cảm nhận được tình yêu nồng cháy giữa họ. Hành động “nắm tay” thay lời yêu thương, những lời yêu thương, tình cảm giữa họ dường như cũng được gửi gắm qua hành động đó. Đó cũng là sự bày tỏ tình cảm của người chiến sĩ cách mạng, những tình cảm không biết tên của họ cũng chính là tiếng nói của họ.

Bài thơ ngắn tám câu nhưng chất chứa nhiều suy tư. Có như vậy, chúng ta mới hiểu sâu sắc tình cảm thủy chung, sâu nặng giữa đồng bào Việt Bắc với cán bộ cách mạng trở về. Từ đây ta thấy được tâm trạng hoài cổ, nhớ nhung của họ. Bài thơ này không chỉ thành công về nội dung mà còn thành công về nghệ thuật. Cách đối đáp, cách xưng ta-ta, điệp ngữ, điệp ngữ và hoán dụ, điệp ngữ, từ ngữ giản dị, đầy tính dân tộc, phong cách thơ tiêu biểu.

Qua bài thơ này, ta cảm nhận rõ tình cảm, tấm lòng, nghĩa tình giữa đồng bào Việt Bắc với người cán bộ cách mạng. Tám câu trong bài thơ “Việt Bắc” của Du đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Những tấm lòng nhân ái ấy sẽ sống mãi trong lòng người đọc hôm nay và mai sau.

» Trải nghiệm và phân tíchVẻ đẹp của bức tranh tứ bình trong đoạn 7 Bài ca dao Bắc Bộ

Mô hình 3:

Xem Thêm: Soạn bài Dế Mèn bênh vực kẻ yếu trang 4 Tiếng Việt Lớp 4 tập 1

Nhắc đến nhà thơ là nghĩ đến người chiến sĩ cách mạng. Ông là người mở đầu cho phong trào văn nghệ gắn với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta. Con đường nghệ thuật của tác giả luôn gắn liền với chủ nghĩa yêu nước và đấu tranh giải phóng dân tộc của Tổ quốc Việt Nam.

Nhà văn Đỗ Hữu đã viết nhiều bài thơ hay, thể hiện tình cảm yêu nước nhớ quê hương và tình quân dân. Trong số đó, bài thơ “Việt Bắc” là một bài thơ đặc sắc, hay, thể hiện phong cách nghệ thuật tài tình, tài tình của tác giả khi kết hợp đỉnh cao nghệ thuật và chính luận. Đó là một sự kết hợp vô cùng trôi chảy và linh hoạt, không gây cảm giác khó chịu cho người đọc. Khổ thơ đầu của bài thơ “Việt Bắc” gợi cho người đọc nhiều cảm xúc, tình quân dân thắm thiết, thắm thiết như người một nhà.

Bài thơ “Việt Bắc” được tác giả sáng tác trong bối cảnh đất nước ta toàn thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Sống ở núi rừng Việt Nam 15 năm, các chiến sĩ cách mạng Hồ Tuấn gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc nơi đây, được đồng bào nơi đây nuôi nấng, chia sẻ từng bát cơm, từng miếng khoai, củ sắn trong những ngày kháng chiến ác liệt, vừa qua. như những người thân trong cùng một gia đình. Nhưng nay, khi đã quét sạch quân thù ở miền Bắc nước ta, bộ đội ta phải trở về quê hương nhận nhiệm vụ mới.

Cuộc chia tay nhẹ nhàng mà thể hiện sự lưu luyến bền chặt. Những lời trăn trối trước khi ra đi khiến người ra đi vô cùng xúc động không nói nên lời khi chia tay. Mở đầu bài thơ, tôi viết những lời luyến tiếc mà tôi đã bỏ lỡ từ lâu. Thể hiện nỗi lòng nặng trĩu của người ra đi và người ở lại:

“Tôi sẽ nhớ bạn khi tôi trở lại

Mười lăm năm ấy mặn nồng

Bạn có nhớ tôi không?

Nhìn cây không thấy núi, nhìn sông nhớ nguồn”

Tác giả Dư Bạn đã sử dụng cách xưng hô truyền thống phổ biến “anh với tôi”, đây là cách xưng hô phổ biến trong ca dao, tục ngữ, ca dao ở nước ta. Đồng thời cũng thể hiện mối quan hệ gia đình giữa nhân dân với các chiến sĩ cách mạng nơi đây, tình vợ chồng, anh em, mẹ con thật khăng khít, gần gũi, keo sơn.

Từ “nhớ” được tác giả sử dụng nhiều lần, nhấn mạnh nỗi nhớ da diết về một nơi xa, một nơi không phải quê hương của những người chiến sĩ cách mạng nhưng lại có bao kỉ niệm gắn bó. Cần thiết, sự sống và cái chết giống như ngôi nhà thứ hai của các cựu chiến binh.

Quân và dân nơi đây đã cùng nhau trải qua quá nhiều kỷ niệm. Cùng nhau đuổi giặc, cơm chia đôi, chăn đắp kín, lộ ra cảm giác tình thân hơn người thân. Đồng bào miền sơn cước Việt Nam tuy không phải anh em ruột thịt nhưng mười lăm năm nay họ như cha mẹ của người lính.

“Giọng ai nghiêm trong rượu

Bụng đi đứng không yên”

Dùng hai câu thơ để nói lên nỗi nhớ của người lính đối với người dân nơi đây. Tiếng nói chân thành vang lên trong trái tim của mỗi người lính chúng tôi.

Đó là tiếng nói của trái tim, là tiếng gọi của con người từng bị ám ảnh bởi sự sống và cái chết, có lúc cận kề cái chết nhưng luôn bên nhau, người nay phải chia xa, vận động và cuộc sống. Không kìm được mà nghẹn ngào xúc động. Tôi chỉ biết kìm nén nỗi nhớ nhung trong lòng, không thể nói ra, không thể kêu lên để trấn an lòng mình, khiến cảnh chia tay càng thêm thê lương.

Màu chàm mang đến sự chia ly,

Nắm tay nhau biết nói gì hôm nay.

Bài thơ được tác giả viết theo thể lục bát dễ nhớ, nhịp điệu rất sinh động làm cho lời thơ rất hấp dẫn, bố cục hài hòa với nhạc điệu trong bài thơ. Màu áo chàm là màu trang phục của đồng bào các dân tộc vùng núi Tây Bắc. Một hình ảnh quen thuộc, giản dị gắn liền với người chiến sĩ cách mạng, nhưng lúc chia tay hôm nay, màu áo chàm lại gợi lên những xúc cảm đầy ám ảnh. Hình ảnh đầy gợi cảm và phải thể hiện sự gắn bó chân thật. Người ra đi sẽ ở lại với tình cảm chân thật, tình cảm quân dân.

Yếu tố tác giả trong khổ thơ đầu bài thơ “Việt Bắc” nói lên tình cảm sâu sắc, chân thành của tác giả. Nhịp thơ vô cùng mềm mại, sâu lắng thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa người chiến sĩ cách mạng với nhân dân vùng núi Tây Bắc nơi đóng quân.

-/-

Trên đây là một số bài văn xuôi phân tích đoạn đầu của bài thơ Việt Nam, cảm nhận về nắng gió, nắng gió, vất vả nhưng thấm đượm hình ảnh của đất Việt trong những bài thơ hay. Mong rằng các bạn có thể tham khảo đầy đủ các bài văn mẫu được chọn lọc trong tài liệu bạn đọc, đồng thời có thêm những bổ sung cho nội dung bài viết của mình. Chúc các em học tập chăm chỉ và đạt điểm cao khi tham khảoVăn mẫu 12!

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục