Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh | C. Mác; Ph. Ăngghen; V. I. Lênin

Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh | C. Mác; Ph. Ăngghen; V. I. Lênin

Hồ chí minh quê ở đâu

Bạn Đang Xem: Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh | C. Mác; Ph. Ăngghen; V. I. Lênin

Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 02/9/1969)

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước và lớn lên ở nơi có truyền thống anh hùng đánh giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước bị nhấn chìm bởi ách đô hộ của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã chứng kiến ​​nỗi thống khổ của đồng bào và cuộc đấu tranh chống thực dân của tuổi trẻ nên đã sớm nung nấu ý chí đánh đuổi thực dân, đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. quê hương. Đem lại tự do, hạnh phúc cho Tổ quốc.

Với ý chí và quyết tâm ấy, tháng 6-1911, Hồ Chí Minh rời Tổ quốc ra đi Tây phương tìm đường giải phóng dân tộc.

Ngày 3/6/1911, Nguyễn Tất Thành được cấp giấy phép lên tàu Amiran Latustervin mang tên Văn Ba. Hai ngày sau, ngày 5 tháng 6 năm 1911, tàu rời Cảng Long sang Pháp.

Từ năm 1912 đến năm 1917, Hồ Chí Minh với danh nghĩa Nguyễn Đà Thành đã đi khắp châu Á, châu Âu, Mỹ, châu Phi và các nước khác, sống chan hòa với nhân dân lao động. Qua thực tiễn, Hồ Chí Minh đồng cảm sâu sắc với những kiếp sống lầm than của nhân dân lao động và nhân dân thuộc địa và những đòi hỏi tinh thần của họ. Hồ Chí Minh sớm nhận thức rằng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một phần của cuộc đấu tranh chung của nhân dân toàn thế giới và tích cực ra sức đoàn kết đồng bào các dân tộc cùng đấu tranh giành độc lập, tự do.

Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở về Pháp và tích cực tham gia phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.

Năm 1919, với danh nghĩa Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Pháp trình dân tộc Việt Nam và các quyền tự do của dân tộc Việt Nam trước Hội nghị Versailles. nhân dân các nước thuộc địa.

Chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và biểu quyết tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) , trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác là làm cách mạng vô sản.”

Năm 1921, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội liên hiệp nhân dân thuộc địa cùng với một số người yêu nước ở các thuộc địa của Pháp. Tháng 4 năm 1922, để đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, Hội đã xuất bản tờ “Nhật báo Pa-ri”. Nhiều bài viết của Nguyễn Ái Quốc được đưa vào cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản tại Pa-ri năm 1925. Đây là công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, có tác dụng thức tỉnh, cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên đấu tranh giải phóng chính mình.

Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm 1923, tại Hội nghị quốc tế nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng quốc tế công nông và là đại biểu duy nhất của nông dân các nước thuộc địa được cử vào Đoàn chủ tịch Đại hội, Đại hội Quốc tế Thanh niên lần thứ IV và Quốc tế Cộng sản. Đại hội Liên đoàn Đỏ. Tại Đại hội, Nguyễn Ái Quốc kiên quyết bảo vệ và phát triển tư tưởng của V.i. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã hướng sự chú ý của cộng đồng quốc tế cộng sản vào phong trào giải phóng dân tộc.

Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc, Ủy viên Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại Canton, Nguyen Aiguo làm việc trong Nhóm Cố vấn Borodin của chính phủ Liên Xô và với chính phủ Việt Nam.

Xem Thêm: Địa chỉ kho Củ Chi SOC Shopee ở đâu? Giao hàng bao lâu?

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, xuất bản tuần báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam “Thanh niên”, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc trong lớp huấn luyện đã được sưu tầm và in thành sách “Dương Cát Vương”, là tài liệu lý luận quan trọng đặt nền tảng tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.

Tháng 5 năm 1927, Ruan Aiguo rời Quảng Châu đến Moscow (Liên Xô), Berlin (Đức) và Brussels (Bỉ) để tham dự cuộc họp mở rộng của Đại hội Liên đoàn Phản chiến. Sau đó đến Ý, và từ đây đến Châu Á.

Xem Thêm : Greece là nước nào? Tìm hiểu về đất nước thần loại Hy Lạp

Từ tháng 7-1928 đến tháng 11-1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Việt Nam yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 2-1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì đại hội thành lập đảng ở Cửu Long, Hồng Kông (Trung Quốc). Đại hội đã thông qua cương lĩnh, sách lược và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam và của cả dân tộc.

Tháng 6 năm 1931, Ruan Aiguo bị chính phủ Anh bắt giữ tại Hồng Kông. Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được trả tự do.

Từ năm 1934 đến năm 1938, Nguyễn Ái Quốc học tại Học viện Các vấn đề dân tộc thuộc địa Mátxcơva (Liên Xô). Kiên định đường lối kiên định của cách mạng Việt Nam, tiếp tục theo dõi, hướng dẫn phong trào cách mạng trong nước.

Tháng 10 năm 1938, ông rời Liên Xô trở về Trung Quốc, đồng thời liên lạc với tổ chức đảng để chuẩn bị trở về Trung Quốc.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, Ruan Aiguo trở về quê hương sau hơn 30 năm xa quê hương.

Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 của Đảng, xác định con đường cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập nước Việt Nam độc lập Đồng minh hội. Tổ chức, xây dựng căn cứ địa cách mạng cho lực lượng vũ trang giải phóng.

Tháng 8 năm 1942, lấy bút danh là Hồ Chí Minh, thay mặt Mặt trận Việt Minh và Chi bộ Việt Nam của Hội Quốc tế phản đế Trung Quốc, tổ chức phong trào chống phát xít tìm liên minh quốc tế và phối hợp hành động trên chiến trường Thái Bình Dương. Ông bị chính quyền địa phương Tưởng Giới Thạch giam cầm tại nhà tù Quảng Tây. Một năm mười bốn ngày trong tù, Người viết tập thơ “Nhật ký trong tù” bằng chữ Hán, tổng cộng có 133 bài thơ. Tháng 9 năm 1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.

Xem Thêm: Đổi tiền Campuchia ở đâu trong TP.HCM uy tín – tiện lợi

Tháng 9 năm 1944, Hồ Chí Minh trở lại căn cứ cao. Tháng 12 năm 1944, Hồ Chí Minh ra lệnh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 5 năm 1945, Hồ Chí Minh tốt nghiệp phổ thông và trở lại Phong trào Mới (Tuyên ngôn). Tại đây, theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội đã họp quyết định tổng khởi nghĩa. Đại hội bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (chính phủ lâm thời).

Tháng 8-1945, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thành lập Chính phủ lâm thời do nhân dân lãnh đạo. Tổng thống và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để bầu ra Quốc hội và thông qua bản hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam.

Ngày 1-1-1946, Chính phủ liên hiệp lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Ngoại giao được thành lập.

Tháng 1-1946, Quốc hội khóa I bầu Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 3-2-1946, Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh đứng đầu được thành lập.

Ngày 3-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội ủy nhiệm thành lập Chính phủ mới do người từng giữ chức Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ (11-1946 đến 9-1955) và Bộ Ngoại giao đứng đầu. Bộ ngoại giao. Bộ trưởng Ngoại giao (11/1946-1947).

Xem Thêm : Thuốc Stivarga (regorafenib 40mg) mua ở đâu? giá bao nhiêu

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Việt Nam đập tan âm mưu của chủ nghĩa đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng.

Ngày 19-12-1946, Người kêu gọi đồng bào cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát huy thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), đồng chí được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, Và kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ. (07/05/1954).

Sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1955), Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược cho cách mạng Việt Nam: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đồng thời giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cuộc đấu tranh của thời đại cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Xem Thêm: Núi Voi ở đâu? Kinh nghiệm du lịch núi Voi (Hải Phòng) cho người

Tháng 10 năm 1956, tại Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 10 (khoá II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng kiêm Tổng Bí thư.

Đại hội Đảng lần thứ III (1960) đã nhất trí bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Các cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ hai và thứ ba đã bầu ra Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Năm 1964, đế quốc Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không kích miền Bắc Việt Nam. Cổ vũ toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, nhà máy có thể bị tàn phá, nhưng dân tộc Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập và tự do”. tự do! Đến ngày toàn thắng, nhân dân ta sẽ xây dựng Tổ quốc đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Hà Nội ngày 2-9-1969.

Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc Việt Nam bản Di chúc lịch sử căn dặn Đảng và nhân dân Việt Nam xây dựng đất nước sau chiến tranh. Tác giả viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: toàn đảng bộ và nhân dân ta đoàn kết, ra sức xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân tộc Việt Nam đã đoàn kết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay b52 của đế quốc Mỹ, buộc chính phủ Mỹ phải ký “Hiệp định Pa-ri” vào ngày 27. Ngày 1-1-1973, chiến tranh xâm lược kết thúc, toàn bộ quân Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, với Trận chiến Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện tâm nguyện thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước Việt Nam, chỉ ra con đường đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập Đảng Mác-Lênin Việt Nam, Người sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Người sáng lập Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, Người sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Đồng chí là tấm gương sáng về tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân Việt Nam và của cả dân tộc Việt Nam, chiến sĩ kiệt xuất, nhà hoạt động kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, của phong trào cộng sản quốc tế và của dân tộc. phong trào giải phóng

Nghị quyết 24c/18.6.5 được thông qua tại kỳ họp thứ 24 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1987, được thông qua nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990 , tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng văn hóa giải phóng dân tộc kiệt xuất của Việt Nam”, Người đã góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân toàn thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Ngày nay, trong sự nghiệp trẻ hóa đất nước và hội nhập thế giới, Tư tưởng Hồ Chí Minh là của cải tinh thần to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của dân tộc Việt Nam . Bảo vệ sự thịnh vượng, dân chủ, công bằng và văn minh của đất nước.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giải Đáp Cuộc Sống