Văn mẫu lớp 10: Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du (14 Mẫu) Phân tích Độc Tiểu Thanh kí

Phân tích bài thơ độc tiểu thanh ký phản ánh rõ nét một xã hội đầy bất công, tàn ác. Đồng thời, Nguyễn Du cũng mượn hình ảnh giai nhân để nói lên nội tâm của mình về số phận bất hạnh của những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn trong xã hội phong kiến.

chiến thuật đọc phân tích bao gồm download.vn 14 bài văn mẫu hay và ấn tượng được chọn lọc từ những bài dự thi đạt điểm cao nhất của các bạn. Đọc mục tiểu dẫn qua 14 ví dụ phân tích giúp các bạn có thêm gợi ý tham khảo, nâng cao kiến ​​thức, biết cách phân tích các bước giải quyết vấn đề đặt ra trong các câu hỏi. Viết một bài báo hay toàn bộ một cách nhanh chóng từ đó. Ngoài ra, các bạn có thể xem thêm cảm nhận về bài thơ Độc tiểu thanh ký.

Bạn đang xem: Hình ảnh tiểu thanh

Chiến lược đọc đề cương phân tích

1. Mở bài phân tích đọc phụ thanh ký

– Giới thiệu về Nguyễn Du:

+ Nguyễn Du (1765 – 1820) là nhà thơ kiệt xuất, nhà nhân đạo lớn của dân tộc Việt Nam.

– Đọc phần giới thiệu đoạn thơ:

+ Đọc Tiểu thanh ký là một trong những tác phẩm kinh điển của thơ nguyễn du, là tiếng nói thương cảm cho số phận của những người phụ nữ bất hạnh xưa – nạn nhân của chế độ phong kiến.

2. nội dung phân tích đánh dấu cột

* Tìm hiểu về cuộc sống của cô ấy

– tiểu thanh là một cô gái có thật, sống ở Nguyên Du đời nhà Minh (Trung Quốc) cách đây 300 năm, rất thông minh và tài giỏi.

– Tuy tài sắc vẹn toàn nhưng nàng lại phải chịu một số phận cô đơn, bất hạnh, bi thảm.

– Nàng ghen tị với người bạn đời ban đầu nên sống ở một xóm trọ ven Hồ Tây.

– Trước khi ngã bệnh năm 18 tuổi, tập thơ bà để lại đã bị người vợ gốc đốt hết, giờ trong “tàn tích” chỉ còn lại mấy bài thơ.

=> tiểu thanh là một cô gái tài năng nhưng kém may mắn.

*Văn bản 1: Đọc xong thấy tội nghiệp cho trẻ vị thành niên (hai câu)

“Hồ Tây sáng đẹp”

– vườn hoa tây hồ (vườn bên hồ tây) – thanh khu (gò hoàng) -> hình ảnh thơ so sánh xưa và nay

– “hết”: hết, hết, hết

->Nguyễn Du dùng cảnh vật thay đổi để nói lên sự thay đổi của cuộc sống: Hồ Tây xưa đẹp nay đã thành đồi trọc.

=>Xót xa, ngậm ngùi cho vẻ đẹp chỉ còn thuộc về quá khứ.

“Điếu thuốc chỉ có một mà tiền nhiều nhất chỉ có một lá thư” (khóc nức nở bên tờ giấy vụn)

-“Độc thân”: Thăm viếng một mình -“Khóc”: Trạng thái thương cảm, đồng cảm

<3

->Một mình thơ đọc buồn (thư tuyệt mệnh của tiểu thanh)

->Nhấn mạnh vào sự cô đơn, suy nghĩ sâu xa, ngậm ngùi

=>Hai câu thơ thể hiện niềm tiếc thương của nhà thơ đối với một cô gái trẻ tài sắc vẹn toàn mà sống trong cảnh nghèo khổ. Khi bà mất đi, chỉ còn lại Hồ Tây, không còn đẹp như lúc bà còn sống.

*Luận điểm 2:Số phận bi thảm của Tiểu Thanh (Hai sự thật)

christian Lian Zihao (trang điểm có chôn thần vẫn ghét)

-“Son môi”: vật trang điểm của phụ nữ, biểu tượng cho vẻ đẹp và vẻ đẹp của người phụ nữ

->Vẻ đẹp của nước tràn qua bức tường của quán bar nhỏ.

<3

-“Văn”: Tượng trưng cho tài năng.

– “ghét thì vương”: bộc lộ cảm xúc

-“chôn”, “đốt”: động từ cụ thể hóa sự ghen tuông, đánh đập dã man của người vợ cả.

->Triết lý về số phận con người: tài và mệnh, vận tương sinh, sắc và tài thường bị át chế.

->Thái độ của xã hội phong kiến ​​là không thu nhận người tài.

=>Kể lại cuộc đời và số phận bi thảm của Tiểu Thanh, ngợi ca, khẳng định tài năng đồng thời thương tiếc cho số phận bi thảm của nàng – một cách nhìn mới của chủ nghĩa nhân đạo tiến bộ.

*Bài 3: Suy tư và đồng cảm của tác giả đối với Tiêu Sinh (hai bài)

Gu Jin ghét thiên nhiên gian khổ, xui xẻo, bất chính lập thân

<3

-“Mối hận vĩnh hằng”: Mối hận cổ đại và hiện đại, mối hận muôn đời, mối hận muôn đời-> mối hận giết chết nhân tài.

-“Những ngày khó khăn”: Khó thì nhờ trời

->Sự bất công cho thân phận người tài nữ trong xã hội phong kiến ​​đầy bất công: người đẹp thì bất hạnh, người tài nữ thường cô đơn.

– “Đáng tiếc”: Sự bất công kỳ lạ

– “Bản thân”: Tôi (có nghĩa là sự tồn tại của cá nhân)

->Vì lịch sự mà bị sai. Số phận bi đát của những nhân tài trong xã hội xưa.

=>Nguyễn Du không chỉ thương cô mà còn nói về mối hận của vạn người trong đó có chính nhà thơ. Vì vậy, tôi vô cùng đồng cảm với “Ba Tâm hồn Dạy dỗ”.

*Luận điểm 4: Từ lòng thương người, tác giả đã thương chính mình (kết đoạn hai câu)

<3

(Không biết ba trăm năm nữa người ta có khóc không)

-“Ba trăm tuổi”: con số thô, biểu thị đã lâu.

-“tử thích”: tên chữ của nguyễn du

->Tiếng khóc của cô bé bây giờ đã có một tác giả hiểu và tha thứ cho cô, không biết rằng thế hệ mai sau sẽ khóc cho mình.

=>Thơ bỗng chuyển từ “thương người” sang “thương mình” mong nhận được sự đồng cảm của thế hệ mai sau.

– Câu hỏi tu từ: “Ai mà khóc như thế?”->Câu hỏi đau đớn, xót xa, thể hiện sự chua xót, xót xa, ngậm ngùi của tác giả trước nỗi cô đơn hiện tại.

->Mong muốn tìm được tri kỉ trong cuộc đời.

=>Tâm trạng hoài nghi, đau đớn, yêu đời, tủi thân của nhà thơ. Con người to lớn vượt mọi không gian và thời gian.

3. Kết luận phân tích đọc ký hiệu thanh phụ

– Tóm tắt giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:

  • Nội dung: Thể hiện cảm nhận và niềm xót xa của Nguyễn Dực trước số phận bất hạnh của những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn trong xã hội phong kiến, xót thương cho giá trị tinh thần bị chà đạp – một khía cạnh quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Dực.
  • Đặc điểm nghệ thuật: Thơ Đường Lữ Bá Tiêu mang tính thơ sâu lắng, giàu chất triết lí, nghệ thuật, câu hỏi tu từ, hình ảnh thơ giàu ý nghĩa tượng trưng.
  • – Hãy nói những gì bạn cảm thấy.

    ………………………………………….. .

    Tải xuống tệp để xem thêm tiểu mục đọc đề cương phân tích

    Phân tích đọc thanh phụ – mẫu 1

    Riêng Đức được coi là một thiên tài văn học và một nhà nhân đạo lớn của dân tộc. Ông được mệnh danh là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã để lại nhiều tác phẩm chữ Hán có giá trị. Các tác phẩm của anh luôn mang đậm tính nhân văn, đề cao những điều đẹp đẽ trong lòng người.

    “Độc truyện thanh ký” là một trong những tác phẩm chữ Hán tiêu biểu của Nguyễn Du. Chuyên khảo phân tích những suy nghĩ, tình cảm của tác giả về những người phụ nữ xưa xấu số trong xã hội. Đồng thời, qua các tác phẩm của ông, chúng ta cũng cảm nhận và hiểu sâu sắc về tấm lòng nhân đạo, tình yêu thương con người của ông.

    Mở đầu bài thơ, tác giả miêu tả hoàn cảnh và bối cảnh của tác phẩm:

    <3

    Ở đây, tác giả sử dụng một hình ảnh thơ so sánh cổ đại và hiện đại: “Vườn hoa Tây Hồ” (vườn hoa ở phía tây của hồ) và “thành kh” (đồi trọc). Trong khi đó, động từ “to end” diễn tả sự thấu đáo của một việc gì đó. Từ đó, bài thơ đã ám chỉ đến sự đối lập giữa cổ kính và hiện đại: khu vườn phía Tây hồ Tây giờ là một bãi đất hoang, không có sự sống. Như vậy, bài thơ gợi lên nỗi xót xa của nhà thơ trước sự đổi thay, sự tàn tạ của cái đẹp theo thời gian.

    Cách dùng từ cô đơn của tác giả cũng rất tài tình: “đơn” (thăm một mình) và “độc bì” (cuốn sách). Tác giả dường như muốn nhấn mạnh nỗi cô đơn tột cùng của con người qua việc sử dụng hai hình ảnh đó. Đồng thời, tính tương xứng cũng được nhấn mạnh tại cuộc họp này. Đó là cuộc gặp gỡ của một người đàn ông cô đơn với cuộc đời bất hạnh, cô độc.

    Tiểu thanh phân tích độc đáo, chỉ hai câu, đã thể hiện trọn vẹn tâm trạng của tác giả. Tác giả vô cùng sửng sốt trước khung cảnh thiên nhiên hoang tàn, điêu tàn này, đồng thời cũng vô cùng xót xa, tiếc thương cho số phận bất hạnh của cô gái trẻ.

    Tiếp theo, tác giả đã miêu tả rõ nét số phận của cô gái trẻ qua hai câu thơ hiện thực:

    “Chủ nghĩa hữu thần là tử tù, văn chương không vô hồn.”

    Ở đây, tác giả sử dụng nghệ thuật hoán dụ rất tài tình. Hình ảnh “hoa phấn” là biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ. “Văn” tượng trưng cho tài năng và trí tuệ của con người. Cách dùng hoán dụ này gợi tả hình ảnh người con gái vừa tài giỏi vừa xinh đẹp, tài sắc vẹn toàn, đáng được trân trọng.

    Ngoài ra, tác giả còn sử dụng những từ chỉ cảm xúc như “ghét”, “vượng” để bộc lộ cảm xúc của mình. Thật ngậm ngùi và xót xa cho tài năng và dung nhan của người thiếu nữ bất hạnh. Các từ “chôn”, “đốt” là những động từ cụ thể hóa sự căm ghét của lão phu nhân đối với tiểu thư. Đây cũng là thái độ tiêu biểu của xã hội phong kiến ​​xưa. Ở đó, họ không chấp nhận một người tài giỏi và vẹn toàn như cô, mà chỉ muốn tìm cách trấn áp, trấn áp những số phận bất hạnh đó.

    Qua thơ văn, Nguyễn Du còn bộc lộ triết lí về số phận con người trong xã hội phong kiến. Theo ông, họ là những người có tài, nhưng đáng tiếc là “phú quý ngang nhau” và “hồng nhan thì đầy tai ương”. Và khi họ tài giỏi và xinh đẹp, họ sẽ bị ăn đòn thậm tệ:

    “Có tài, dựa vào tài, quá lời tương xứng”

    (Truyện hải ngoại)

    Nguyễn Du đã diễn tả nỗi đau trước số phận bất hạnh của người tài nữ qua hai câu thơ. Đồng thời cũng thể hiện vẻ đẹp ngưỡng mộ, trân trọng đối với người phu nhân này, đề cao tài năng và trí tuệ của bà. Không chỉ vậy, chôn vùi những kiếp người dưới bùn đen còn lên án mạnh mẽ xã hội phong kiến ​​lúc bấy giờ.

    Tiếp theo, tác giả suy nghĩ bao quát về số phận và cuộc đời con người:

    Xem thêm: Câu hỏi tu từ là gì? Đặc điểm, tác dụng và cách đặt câu hỏi tu từ

    “Gu Jin ghét tự nhiên, gió là bất công và ích kỷ.”

    Câu “Cổ kim hận chi vật” dùng để diễn tả ân oán xưa nay. Không phải chỉ là hận nhất thời, mà là hận vĩnh viễn, hận cả đời. Đó cũng là nỗi căm ghét của một con người tài hoa mà số phận đầy bất công. Mối hận ấy đúng là “hỏi trời”, khó mà hỏi trời. Bài thơ này rất khái quát và tượng trưng cho toàn xã hội. Mối hận kia không phải là mối hận của cung nữ, cũng không phải là mối hận của tác giả Nguyễn Du, mà là mối hận của tất cả những bậc hiền tài trong xã hội phong kiến ​​xưa. Đoạn thơ thể hiện rõ nỗi đau đớn, phẫn uất mãnh liệt trước hiện thực phũ phàng của cuộc đời. Người đẹp thì bất hạnh, nghệ sĩ tài hoa thường cô đơn. Nghịch lý đó, tôi không biết phải làm sao.

    Nhằm nhấn mạnh nỗi đau trước số phận trẻ vị thành niên, bỉm giả dùng từ “bất công”, quả là một sự bất công hiếm có. Cùng với điều này, thuật ngữ “bản thân” đề cập đến một cá nhân. So với Nguyễn Du ngày ấy quả là một sự khẳng định táo bạo. Tác giả không còn đứng ngoài nhìn vào mà chủ động tìm đến nàng để yêu, chỉ có người bất hạnh mà thôi. Qua đó ta thấy được sự trân trọng cái đẹp của nhà thơ đối với nhân vật. Anh ta không chỉ cảm thấy có lỗi với cô gái nhỏ, mà còn nói về hàng ngàn mối hận thù, kiếp này qua kiếp khác. Điều này bao gồm cả chính nhà thơ. Qua đó thể hiện sự đồng cảm, thấu hiểu và tìm kiếm điểm chung của nhà thơ đối với những nhân vật đã đạt được “lòng trắc ẩn”.

    Cuối cùng tác giả dùng hai câu kết thúc để hô hoán người khác, sau này mình khó khăn:

    <3

    Ở đây, Nguyễn Du sử dụng câu hỏi tu từ một cách độc đáo. Nguyễn Du khóc cho đứa con gái nhỏ, nhưng cũng trăn trở và khóc cho chính mình. Anh nghĩ, nghĩ, rồi ai sẽ khóc cho anh, liệu có ai thông cảm cho anh? Điều này đã nói lên nỗi cô đơn của người nghệ sĩ vĩ đại “Tiếng chim cô đơn giữa trời thu muộn” (Ảo mộng mùa xuân). Anh ấy rất lạc lõng trong hiện tại và đã tìm thấy một người bạn tâm giao trong quá khứ. Tuy nhiên, tôi vẫn hy vọng và mong chờ một trái tim hiểu tôi trong tương lai, giống như tôi đã đến với cô ấy và hiểu cô ấy. Điều đó cho thấy, ngoài thời gian và không gian, tấm lòng yêu thương và tính nhân văn sâu sắc của Nguyễn Du sẽ luôn tồn tại.

    Độc xanh ở cuối bài thơ, ta vẫn không khỏi xót xa cho người con gái tài hoa mà bất hạnh ấy. Đồng thời ta cũng thấy được tấm lòng nhân hậu, vị tha, thương xót của Nguyễn Du trước những mảnh đời bất hạnh trong xã hội cũ.

    Phân tích urê huyết – Mẫu 2

    Là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, Nguyễn Du đã để lại một di sản văn học đồ sộ, trong đó có chữ Hán và tên tuổi. Khi sáng tác thơ văn, người ta sẽ thấy Nguyễn Du luôn dành một sự đồng cảm cho những người tài nữ có số phận giống như Dương thị, Thúy Kiều, thậm chí là nàng tiên cá trong xã hội. /p>

    Ai đã từng đọc bài “Độc tiểu thanh ký” thì sẽ biết đó là bài thơ viết về người tài nữ tiểu thanh thời nhà Minh bên Trung Quốc. Tuy nhiên, tiêu đề của bài thơ vẫn còn gây tranh cãi. Có người hiểu rằng Nguyễn Du đang đọc là tập thơ của nàng, có người lại hiểu rằng Nguyễn Du đang đọc là truyện của nàng. Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, đại thi hào Nguyễn Du đã lấy cảm hứng để sáng tác bài thơ này từ cuộc đời đầy bi kịch của bà. Tiêu Thanh thông minh tài giỏi, năm 16 tuổi lấy vợ lẽ nổi tiếng. Vì ghen tuông với người vợ cả, ông phải sống một mình trên núi bên Hồ Tây. Quá uất ức kiếp nô lệ, tiểu thanh sớm lâm bệnh khi mới 18 tuổi. Năm đó Tiêu Thanh viết cảm xúc thành thơ, cũng bị bạn đời đốt, may mà còn vần. Bài thơ được lưu giữ cho đến ngày nay.

    Nguyễn Du nức nở trước bài thơ của nàng:

    “Taihe hoa nhẹ, nhiều tiền nhất chỉ một chữ”

    (Tạm dịch: Vườn hoa bên Hồ Tây đã thành bãi hoang, chỉ thấy em bên trang sách trước cửa sổ”

    Hai câu đầu buồn vì Nguyễn Du nhìn thấy sự tương phản giữa quá khứ và hiện tại. Hồ Tây là một vườn hoa lộng lẫy khi còn là một cô gái xinh đẹp, nhưng bây giờ nó chỉ là một bãi đất hoang đổ nát. Từ “bẫy” được tác giả sử dụng để chỉ mọi thứ đã hoàn toàn thay đổi, không còn dấu vết của quá khứ. Những đổi thay của năm tháng thật tàn khốc: vườn hoa biến thành gò đống là chứng tích của thời gian, còn cuộc đời lầm lũi, nhu mì của cô gái nhỏ chỉ dừng lại dưới chứng tích của thơ, sách, tranh. Đứng trước cảnh tượng chân thực ấy, Nguyễn Du không khỏi đau lòng thở dài, không khỏi nghĩ đến thân phận văn nhân. Cô đơn và lẻ loi đến cùng cực nên trong một bài thơ đã xuất hiện hai từ “tuyệt đối” và “nhất”.

    Sau hai sự thật, câu chuyện về cô bé vẫn là tiền đề khơi dậy niềm xúc động và lòng trắc ẩn của đại thi hào:

    “Không thể thêm tinh thần hậu văn học hữu thần”

    <3<3 Trước khi chết, Xiaoqing đã nhờ một người thợ thêu vẽ chân dung của mình, nhưng cô ấy chỉ có thể chọn một bức tranh phù hợp với mình để treo. Tiểu Thanh nhìn bức tranh xinh đẹp động lòng người rạng rỡ của mình, khóc muốn chết. Cuối cùng, bức tranh đã bị đối tác ban đầu đốt cháy cùng với bài thơ của cô ấy. Tác giả sử dụng hình ảnh liên tưởng đến gương mặt đỏm dáng “phấn khí” để miêu tả một cách tinh tế cuộc đời tài hoa nhưng bất hạnh của người con gái ấy. Không những thế, Ruan Du còn khơi gợi những bất công, mâu thuẫn trong đời thực chứ không chỉ của riêng cô. Người hiền tài bị cái ác hành hạ, dù có làm nên thần thánh cũng phải chết, văn chương dù không có mệnh cũng sẽ bị thiêu rụi. Sự độc ác của con người đủ khiến những vật vô tri kêu trời xanh.

    Khác với hai câu chủ đề và hai câu nội dung có phần hướng ngoại, ở hai bài văn, Nguyễn Du suy tư về cuộc đời và về chính mình:

    “Gu Jin ghét sự đau khổ của tự nhiên, và phước lành đến từ sự bất công”

    <3

    Mặc dù bản dịch của bài thơ này khá chuẩn nhưng chữ “ghét” không đảm bảo trọng lượng như chữ “ghét” trong nguyên bản. Hận ở đây không phải là hận mà là tiếc – tiếc cho người tài, nhưng thế hệ tài năng lại gặp nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. chạnh lòng cho những con người như vậy, nguyễn du cũng cho rằng đó là cái tục lệ dành cho những người được tặng vật khi mất đi như nàng, thuý kiều… con người xưa và con người ngày nay, tức là con người thời nguyễn du, chính là nguyễn du. Ông già có thể là một người như Ruan Du và cô ấy. Những người này có thể nói là mỹ nhân cùng thế hệ với Ruan Du, cũng là thế hệ nho sĩ tài hoa như Ruan Du, gặp nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Đến đây, Nguyễn Du thấy mình có thể giúp đỡ người thiếu nữ cùng thuyền qua bài thơ: Gió nổi sóng, tự mình nhận lỗi. Lời than thở không chỉ thể hiện sự bất bình, đau đớn và bất lực của nhà thơ trước những bất công xã hội đang chà đạp lên những giá trị văn học nghệ thuật của thời kỳ phong kiến. Giờ biết hận ai, trách ai đây. Ông trời luôn thờ ơ với người tài, nhưng Nguyễn Du bây giờ, ba trăm năm trước nàng đã là Hoa hậu, sau này vẫn sẽ có người chịu loại đau lòng này. Có lẽ lúc này và cả sau này, bản thân Nguyễn Du cũng không giải thích được những mâu thuẫn muôn hình vạn trạng mà mình gặp phải trên đường đời. Tâm sự của một thi nhân xưa như thế này: Tuổi trẻ ta tài cao, mười năm phiêu bạt gió bụi, đã thành chuyện quá thường tình. Những câu hỏi của cuộc đời, không bao giờ có lời giải đáp, va vào cái vô hình, gây nên một cơn đau thấu gan, thấu ruột.

    Sau khi cô gái qua đời, 300 năm sau, Nguyễn Du vẫn ngồi trước cửa sổ, đối diện với tập thơ và truyện của cô, bày tỏ sự cảm thông và tiếc thương cho số phận của cô gái. nguyễn du cùng thuyền với tiểu thanh cũng muốn biết :

    <3

    (Ba trăm năm nữa ai sẽ khóc?)

    Người xưa cho rằng những người cùng cảnh ngộ sẽ thấu hiểu và thông cảm cho nhau sâu sắc hơn bất kỳ ai. Giống như Ruan Du bày tỏ sự thương cảm cho số phận của cô gái trẻ, Cuiqiao cũng khóc lóc thảm thiết để bày tỏ lòng trung thành với Danxian. Những người cùng chí hướng dù xa cách trăm năm cũng sẽ gặp nhau theo thời gian, trong trái tim và trong nỗi nhớ. Nguyễn Du tuy đã 300 tuổi nhưng trước cuộc đời và số phận của nàng, Ruan Du vẫn không khỏi thương cảm và xót xa. Để rồi, Nguyễn Du tự ngẫm về cuộc đời mình và tự hỏi: Hậu thế, biết đâu 300 năm nữa, liệu có ai thương phận mình như thương mình chăng? cô bé này. Cũng từ đây ta thấy một thứ cô đơn, cái cô đơn giữa dòng đời, rất cái thời không tìm được tri kỷ, tri kỉ. Khát vọng ấy cũng giống như mong mỏi thế hệ mai sau để lại cho ai đó những tác phẩm để đời và biến ai đó thành bộ ba của mình.

    Tiêu thanh ký đặc sắc là bài thơ thể hiện tình cảm, sự đồng cảm của đại thi hào Nguyễn Du đối với người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Qua sự việc đó, Nguyễn Du đã than thở về cuộc đời của chính mình, và than thở rằng cuộc sống của anh dường như cũng giống như giọng nói nhỏ bé của chính mình. Cũng như những bài thơ khác của mình, Toche Ching Chi thấm đẫm giá trị nhân đạo khi Nguyễn Du đề cập đến những vấn đề đời sống của những con người bị cái ác, bị xã hội vùi dập, nhất là những người phụ nữ nghèo khổ. Đối với những gì họ để lại, anh ấy không chỉ bày tỏ sự cảm thông mà còn cả sự trân trọng. Trước tấm lòng ấy, sau 300 năm, Đỗ Hữu đã “thử lòng” Nguyễn Du bằng những vần thơ cá nhân này:

    Giọng thơ kinh thiên động địa vang vọng như lời ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du, lời yêu như lời ru của mẹ theo năm tháng…

    (Kính gửi anh nguyễn du – to huu)

    Phân tích độc tính – Mẫu 3

    Nguyễn Đức là nhà thơ lớn của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Ông đã để lại cho đời một số lượng lớn thơ, nhiều bài đạt đến trình độ cổ điển, mẫu mực, trong đó có bài “Tuổi trẻ độc thân” lấy cảm hứng từ hình ảnh người phụ nữ tài sắc vẹn toàn.

    Tiêu Thanh là một cô gái Trung Quốc vừa có tài vừa có sắc đẹp, sống vào đầu thời nhà Minh. Cô được biết đến là một cô gái thông minh với nhiều tài năng nghệ thuật khác nhau như thơ ca và âm nhạc. Năm 16 tuổi, cô về làm dâu một gia đình quyền quý. Vì người vợ cả ghen tuông buộc cô phải sống một mình trên núi, gần hồ. Sống trong cô đơn, đau buồn và bệnh tật, và qua đời năm 18 tuổi. Nguyễn Du viết bài thơ này vì thương xót cho số phận bất hạnh của người tài nữ. Hai câu đầu của bài thơ như tiếng nói nhỏ

    Taihehua nhẹ như điếu thuốc, nhưng nhiều tiền nhất chỉ là một lá thư

    (Vẻ đẹp Hồ Tây biến thành ngọn đồi, thổn thức bên trang giấy vụn)

    Bài thơ này không có ý tả vẻ đẹp của Hồ Tây mà chỉ hàm ý tác giả dùng không gian để bày tỏ cảm xúc của mình về những đổi thay của cuộc đời. Hồ Tây được biết đến với cảnh đẹp, nhưng với cuộc sống của cô gái trẻ, cảnh đẹp đã “biến thành một ngôi mộ cằn cỗi”. Người nằm trong lòng “gò đất cằn cỗi” kia là di sản của tiểu thanh, chỉ còn lại người phụ nữ tóc bạc phơ với “mảnh giấy rách” trên mặt đất.

    Trong không gian đổ nát ấy, con người hiện lên cô đơn qua từ “độc thân”. Hai hình ảnh “đồi hoang” và “tờ giấy rách” khiến nhà thơ có cảm giác “khóc bên sông”. Hai câu đầu chỉ là lời giới thiệu nhưng ở hai câu cuối nhà thơ đã làm rõ nỗi buồn của hai câu đầu

    Chủ nghĩa hữu thần Hậu văn học Bất cẩn hậu văn học

    <3

    Mượn hình ảnh “trang điểm” và “văn bản” để chỉ người phụ nữ. Suốt đời chỉ biết dùng đồ trang điểm như một người bạn để giải tỏa phiền muộn. Nhà thơ dùng từ “trang điểm” để miêu tả vẻ đẹp của người con gái nhưng lại bị đánh gục một cách tàn nhẫn.

    Mặc dù đã chết và được “chôn cất” nhưng linh hồn của cô vẫn chưa siêu thoát, và cô vẫn còn “hận thù” với thế giới này. “Hận” là vì vợ chính ghen tuông vô cớ mà chết khi mới 18, 20. Hận “Vương” bị đốt trang vô tội nhưng hình như còn chút luyến tiếc nên vẫn còn vài bài . Xuất phát từ số phận của người thiếu nữ, Nguyễn Du đã tổng kết một cách nhìn về con người trong xã hội phong kiến ​​trong hai câu tiếp theo:

    Gu Jin ghét thiên nhiên gian khổ, xui xẻo, bất chính lập thân

    <3

    Dường như nỗi oan của tiểu thanh không chỉ của riêng nàng, mà câu nói này, là số phận chung của những “hiền tài” từ thời “cổ” đến thời “hoàng kim”. Nhà thơ dùng từ “hận” như muốn nói đến một mối hận suốt đời dù có nhắm mắt cũng không thể quên được. Vừa tài giỏi vừa xinh đẹp nhưng lại không thể sống yên ổn làm việc được. Đọc xong những câu thơ trên hẳn người đọc cũng liên tưởng đến hình ảnh những người phụ nữ ngoại quốc trong tác phẩm của Nguyễn Du. Đó cũng là số phận được sinh ra trong xã hội phong kiến, là người tài giỏi nhưng cuộc đời cô lại lang bạt. Nhà thơ Nguyễn Du đã từng viết hai bài thơ hay và sâu sắc:

    Nhân gian trăm năm, hai chữ tài, hai chữ bạc mệnh, hận thấu xương

    Chỉ có Đạo Trời mới hiểu nỗi oan ngàn đời. Đúng như lời của nhiều nạn nhân, nhiều người trong xã hội lúc bấy giờ đã phải “gồng gánh”. Hai câu chia buồn của Nguyễn Du dường như đang thương tiếc cho chính mình, điều đó thể hiện tấm lòng nhân đạo và tầm nhìn xa trông rộng của ông. Cả bài thơ kết thúc bằng hai câu kết, là những suy nghĩ của chính nhà thơ về thời cuộc và thời cuộc:

    <3

    (Không biết ba trăm năm nữa người ta có khóc không)

    Cùng một suy nghĩ và thấu hiểu cảm xúc, khóc thương cho tiếng nói nhỏ ba trăm năm trước, nhà thơ đã tự vấn, tự vấn, tự vấn. Một câu hỏi bao niềm đau, nếu nói ba trăm năm sau, thơ tiêu thanh còn có Nguyễn Du đồng cảm, nhưng ba trăm năm sau, “ai sẽ khóc như thế”.

    Liệu người ta sẽ nhớ đến anh hay quên anh vào thời điểm đó, câu hỏi dường như ăn sâu vào tâm trí người đọc. Những vần thơ như thể hiện sự phẫn nộ của nhà thơ trước thời cuộc, rồi rơi nước mắt cho người, rồi lại rơi nước mắt cho chính mình.

    Nhưng cho đến hôm nay, tất cả chúng ta đều biết và nhớ đến Nguyễn Du với tư cách là một đại thi hào dân tộc, một tượng đài bất tử của nền văn học Việt Nam, bởi vô số tác phẩm của ông có giá trị to lớn đã, đang và sẽ còn được lưu truyền cho thế hệ sau.

    “Bất hạnh” là bài thơ nói về số phận bất hạnh của một con người tài hoa nhưng bất hạnh được gửi gắm đến bạn đọc. Đồng thời, tác giả cũng phản ánh về xã hội phong kiến ​​tàn ác đẩy con người vào ngõ cụt, chà đạp lên phẩm giá con người, quên đi những giá trị mà người để lại.

    Phân tích chất độc – Mẫu 4

    Nguyễn Du là cái tên ai cũng biết. Tên tuổi ông thường gắn liền với truyện kiều, nhưng ông còn nhiều tác phẩm khác. Có thể nói, Nguyễn Du là người có cảm tình với phụ nữ đương thời. Chính vì thế thơ ông thường khóc thương cho những số phận kém may mắn. Ngoài hải ngoại, ta còn thấy Nguyễn Du tưởng nhớ Hoa hậu nhà Minh qua những tác phẩm đặc sắc của Tiếu thanh ký. Qua bài thơ này, Nguyễn Du bày tỏ niềm thương cảm trước nỗi bất hạnh của những người tài hoa. đồng thời bày tỏ sự đau xót, lo lắng cho số phận của những tài năng, trong đó có mình.

    Khung cảnh Hồ Tây gắn liền với giai thoại tài nữ thời nhà Minh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cô phải trở thành vợ lẽ của một thương gia giàu có ở Hàng Châu, Chiết Giang. Đối tác ban đầu ghen tị và buộc cô phải sống trong một ngôi nhà cô đơn trên ngọn núi cổ xưa. Cô ấy đã viết một tập thơ để ghi lại thử thách của mình. Không lâu sau, Tiêu Thanh qua đời khi mới 18 tuổi. Sau khi bà qua đời, người vợ cả vẫn ghen tuông và đốt tập thơ của bà, may mắn thay, một bài hát đã được phiên âm và đặt tên là Tàn dư (Yu Shao) để kể lại nỗi bất hạnh của bà.

    Mở đầu bài thơ, tác giả dựng lên hình ảnh Hồ Tây đầy đìu hiu, không còn đẹp mà phảng phất nét ngây ngất, mang nỗi niềm của người con gái đa tài, xinh đẹp ấy:

    p>

    “Taihe Hua Lily hút thuốc, nhưng nhiều tiền nhất chỉ là những lá thư.”

    (Vẻ đẹp Hồ Tây biến thành ngọn đồi, thổn thức bên trang giấy vụn)

    Nói đến Hồ Tây, người ta thường nghĩ đến cảnh đẹp, nhưng ở đây Nguyễn Du lại nói là núi trọc. Có thể nói nơi đây từng là một nơi rất đẹp nhưng bây giờ thì không. Nó chỉ là một gò đất cằn cỗi. Ở nơi đó, cô bé bị mất đi giọng nói, và chính sự mất mát đó đã tạo nên khung cảnh tăm tối, đầy uất ức mà cô bé phải chịu đựng. Nó không đẹp bằng cô gái đó nữa. Nàng ra đi, Tây Hồ biến thành một đống bùn đất, chỉ còn lại một nắm xương người chết. Từ “nức nở” như gợi lên nỗi đau, nỗi niềm của cô gái. Giọng thì thào đúng là giọng của Nguyễn Du. Ở đây có sự tương đồng giữa nhân vật và tác giả. Họ cùng chung nghiệp văn chương nên tài hoa Nguyễn Du đã đồng điệu về tâm hồn trước khi ra đi.

    Hai câu tiếp theo, ta thấy linh hồn của người phụ nữ tài hoa ấy vẫn còn vương vấn nơi trần thế, còn vương vấn nơi chốn khiến cho nhà thơ không khỏi xúc động:

    “Chủ nghĩa hữu thần, tử khí, văn chương không thể thêm:”

    (Trang điểm chôn cùng thần thánh, hận thù còn tồn tại, văn chương nhất định không đốt cháy)

    Son hồng ở đây chỉ quán bar, còn son môi là nói đến phụ nữ, bởi nó là vật dụng trang điểm giúp vẻ đẹp của người phụ nữ thêm lộng lẫy. Tác giả dường như cảm nhận được hào khí của cô gái vẫn còn, dù có chôn vùi thì lòng căm thù vẫn còn đó. Nhà thơ tự mình cảm nhận điều đó bằng tâm hồn. Chính cái chết của bà đã cướp đi sự nghiệp văn chương của bà. Ban đầu nó được phát triển, và không thể nào người làm ra nó lại bị giết vì vẻ đẹp của nó. Có thể nói, một loại mỹ nhân khác đã bao hàm văn chương. Tuy nhiên, cho dù các tác phẩm văn học nghệ thuật của cô gái trẻ đã bị đốt cháy, chúng vẫn tồn tại. Văn chương chắc chắn không có linh hồn, nhưng nó ở đây. Gọi nó là Linh Hồn Nhỏ.

    Nhà thơ tiếp tục bày tỏ tình cảm của mình với người phụ nữ tài sắc vẹn toàn ở hai câu tiếp theo. Có thể nói, những câu thơ này càng thấm đượm niềm tiếc thương của nhà thơ đối với người xưa. Có thể thấy nhà thơ “thương người như thương mình”:

    Xem thêm: Câu hỏi tu từ là gì? Đặc điểm, tác dụng và cách đặt câu hỏi tu từ

    “Gu Jin ghét tự nhiên, gió là bất công và ích kỷ.”

    (Tiếc xưa, khách tự phán xét.)’

    Nỗi hận của cô gái nhỏ là mối hận muôn đời, và bài thơ chất chứa biết bao nỗi tuyệt vọng. Không những thế, nguyễn du còn biến nỗi căm thù tiểu thanh thành nỗi căm thù đời này truyền sang đời khác. Cái chết oan uổng của tiểu thanh không thể chấm dứt nỗi oan. Gió ở câu thứ sáu không phải chỉ của cải vật chất mà là của cải tinh thần, hay nói cách khác là cái tâm và cái tài của một con người. Người tài là tinh hoa của đất trời, tại sao số phận của họ lại lận đận, trắc trở như vậy? Đúng vậy:

    “Có tài, dựa vào tài, một nhân vật cũng xứng”

    Tiểu Thanh càng thương tiếc, Nguyên Du càng nhớ mình:

    “Không biết ba trăm năm, người Thiên Hà có thích không?”

    (Hơn ba trăm năm rồi ai lại khóc thế này?)

    Nhà thơ trăn trở trước cuộc đời êm đềm. Vậy mai Nguyễn Du cũng chết, không biết có ai khóc không. Những câu hỏi đặt ra đầy trăn trở về số phận của anh. Ba trăm năm là một con số rất dài nhưng người đời nay vẫn nhớ đến Ruan Duk.

    Từ đó có thể thấy được sự xót xa và thương cảm của các tài năng xuất hiện với số lượng lớn. Nguyễn Du xứng đáng là một nhà văn nữ, không chỉ có những tác phẩm viết về cuộc sống của người nước ngoài mà còn có sự đồng cảm với Hoa hậu Trung Quốc. Tóm lại, nhà thơ viết bài thơ này để thương tiếc con người tài hoa nhưng bất hạnh, đồng thời bày tỏ nỗi lo cho số phận của chính mình.

    Phân tích độc chất – Mẫu 5

    doc tieu thanh ky là một trong những bài thơ chữ Hán hay nhất của nguyễn du trong thanh hiền thi tập. Bài hát có thể được Nguyễn Du sáng tác trước hoặc sau khi ông được triều đình cử sang Trung Quốc.

    Phong cảnh Tây Hồ gắn liền với mỹ nữ vừa có tài vừa có dung mạo thời nhà Minh. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, cô phải trở thành vợ lẽ của một thương gia giàu có ở Hàng Châu, Chiết Giang. Đối tác ban đầu ghen tị và buộc cô phải sống trong một ngôi nhà cô đơn trên ngọn núi cổ xưa. Cô ấy đã viết một tập thơ để ghi lại thử thách của mình. Không lâu sau, Tiêu Thanh qua đời khi mới 18 tuổi. Sau khi bà qua đời, người vợ cả vẫn ghen tuông và đốt tập thơ của bà, may mắn thay, một bài hát đã được phiên âm và đặt tên là Tàn dư (Yu Shao) để kể lại nỗi bất hạnh của bà.

    Nguyễn Du đọc những vần thơ ấy, tràn đầy thương cảm cho người phụ nữ tài hoa bạc mệnh này, đồng thời tỏ ra trăn trở, day dứt cho số phận bất hạnh của bao nhiêu người phụ nữ tài sắc vẹn toàn trong xã hội, trong đó có mình.

    Phiên âm chữ Hán:

    Hoa Tây Hồ nhẹ như điếu thuốc, tiền nhiều nhất chỉ là lời nói. Tinh thần của thế hệ tương lai, của văn chương không bao giờ chết. tri tam bai yuuu, tuyệt vọng của thiên hạ như thế nào?

    Bản dịch thơ tiếng Việt:

    Cảnh Hồ Tây hóa thành gò cằn cỗi, tiếng khóc bên tờ giấy chết, dẫu có thần chôn vẫn còn hận, văn chương không muốn đốt nhưng cũng chẳng làm được gì. .Hơn ba trăm năm không biết ai lại khóc như vậy?

    Tô Tiểu Thanh ba trăm năm sau ngày mất, thi hào Nguyễn Du tỉnh dậy với nỗi khắc khoải giữa cảnh đời bi đát:

    Hồ Tây hoa nở thành Hồ, (Cảnh hồ Tây thành đồi hoang,)

    Câu thơ có sức gợi rất mạnh. Vẻ đẹp của năm qua đã bị hủy hoại, bị phá hủy và không còn lại gì. Trên gò đất ấy, bà chôn cất ít xương cốt còn sót lại của người phụ nữ xấu số. Nói đến vẻ đẹp của Hồ Tây, chắc hẳn tác giả cũng đang nói đến những con người đã từng sống ở đây, đó là tiểu thanh. Kinh nghiệm sống của người phụ nữ tài năng này không gì khác hơn là một giai thoại. Khung cảnh ấy nhân đôi cái tình. Trái tim nhà thơ khóc nhớ đời bất hạnh:

    Tiền tốt nhất cho một điếu thuốc

    Tiểu Thanh đã thể hiện cảm xúc của mình như thế nào qua những bài thơ này?

    Đó chắc hẳn là nỗi niềm thân phận, sự tiếc nuối cho số phận dang dở và quan trọng nhất là nỗi đau tình yêu không ai có thể sẻ chia. Giọng nói bên trong của giọng nói nhỏ và giọng nói bên trong của Ruan Du ăn ý với nhau, đó là lý do tại sao họ có cảm xúc mạnh mẽ như vậy. Nhà thơ rơi nước mắt cho chàng trai trẻ, đồng thời thương tiếc cho chính mình – người cùng hội cùng thuyền qua bao thăng trầm.

    Ruan Ducao cảm thấy rằng linh hồn của Xiaosheng vẫn còn phảng phất đâu đó. Cô chết một mình, khô héo và đau đớn, ở tuổi mười tám. Làm thế nào để xua tan linh hồn xấu xa của cô ấy?

    Sau cái chết của tinh thần hữu thần của thuyết hữu thần, văn học không thể thêm vào:

    (Dù có trang điểm, vẫn còn thù hận, văn chương nhất định phải bùng cháy.)

    Ba trăm năm đã trôi qua, nhưng mọi thứ về cô ấy vẫn còn đó. Chi phấn (bột) là ẩn dụ chỉ phụ nữ, tức là phụ âm. Son môi là vật trang điểm, nhưng cũng là một biểu tượng của vẻ đẹp phụ nữ. Nhưng cái đẹp có thần (chữ Hán của thần cũng có nghĩa là hồn), nó vẫn tồn tại mãi với thời gian như tây thi, dương quý, và cái tên của nó sẽ mãi trường tồn. Hận trang điểm cũng là hận tiểu thanh, hận mỹ nữ, hận mỹ nhân bị thương bị bóp chết. Nó có thể bị nguyền rủa, có thể bị chôn vùi, nhưng nó sẽ mãi mãi được thương tiếc.

    Tài năng của văn chương đặc biệt là tiểu thanh cũng là nét đẹp tinh thần của cuộc sống nói chung. Văn chương vô hồn, vì nó không sống chết như con người? Nhưng ở đây, nó dường như có linh hồn, biết giận, biết thương, biết đấu tranh chống lại bạo lực hủy diệt để tồn tại, và nói với thế giới về những điều đam mê. Chẳng hạn, nếu nó bị đốt cháy hoặc bị phá hủy, những gì còn lại vẫn là một điều đáng tiếc, đáng tiếc. Nhà thơ đã thay đổi số phận son môi và văn chương, để chúng được sống với tiểu thanh, và báo oán thiên niên kỷ với nàng. Hai câu thơ đầy xót xa, chua xót như tiếng khóc nghẹn ngào, nghẹn ngào.

    Hai câu:

    Gu Jin ghét những vấn đề tự nhiên và gió không đúng.

    <3

    Nhà thơ tiếp tục bày tỏ sự đồng cảm. Verse: Gu Jin ghét những vấn đề tự nhiên chứa đựng sự tuyệt vọng. Nguyễn Du đã phát triển và mở rộng từ lòng căm thù cá nhân nhỏ nhoi đối với số phận tiểu thanh sang lòng căm thù lâu dài đối với giới tài tử giai nhân. Tài và bạc mệnh, phải chăng đây là quy luật muôn đời của tạo hóa? Định mệnh dường như là một định mệnh khắc nghiệt? Nếu vậy, tại sao? Mấy ngàn năm nay bao nỗi oan ức, không biết hỏi ai. Nỗi oan lạ lùng của một bậc hiền tài như tiểu thanh cũng là nỗi oan lạ lùng đối với cái chết của một bậc hiền tài, rõ ràng là phi lý và bất công, nhưng khó hỏi trời, trời cũng không hiểu. . Vì thế, càng ghét lại càng ghét.

    Sáu câu trong phong thủy không nói đến của cải vật chất mà là giàu có về tinh thần, nói cách khác là cái tâm và cái tài của nhân tài. Người tài là tinh hoa của đất trời, tại sao số phận của họ lại lận đận, trắc trở như vậy? Nguyễn Du đã từng viết: Chữ tai liên quan đến chữ tai là một âm. Vì thế, có tiền trở thành cái án chung thân để khách (người có tài) mang suốt đời. Tiếc thay, biết điều này, nhiều thế hệ văn nhân tài hoa vẫn lấy làm tủi thân. Nguyễn Du bước vào quán bar nhỏ và nói điều gì đó đã khiến nhiều thế hệ đau đầu và dằn vặt.

    Càng nghĩ, nhà thơ càng thương tiếc cho cô thanh nhỏ, càng thương mình. Từ yêu thương người khác đến yêu thương chính mình:

    <3<3

    Những câu hỏi giàu chất tu từ cho thấy Nguyễn Du vừa muốn biết, vừa mong người đời sau tỏ lòng thương cảm, thương cảm cho số phận của mình. Ba trăm năm có thể hiểu là một con số, đại diện cho một thời gian rất dài. Điều mà Nguyễn Du muốn bày tỏ là bây giờ tôi khóc cho một mình cô ấy, lấy nỗi bất bình của cô ấy làm nỗi bất bình của chính mình. Như vậy, trong tương lai, liệu có ai chịu nỗi bất bình như tôi không? Câu thơ thể hiện cảm giác cô đơn của nhà thơ vì không tìm được người đồng cảm trên cõi đời này đành phải gửi gắm niềm hi vọng vô vọng vào thế hệ mai sau. Hậu thế khóc thương không chỉ cho nhân tố đó, mà cho nhiều tài tử không chuyên khác.

    Nhà thơ thấy mình có nét tương đồng, tương đồng với tiểu thanh. Tiểu Thanh chết, ba trăm năm sau, Nguyên Du thương cho nàng. Ba trăm năm sau khi ông được tuyên bố là đã chết, liệu có ai còn nghĩ đến ông và khóc không?

    Những câu thơ như than khóc cho thân phận của mình, tủi thân, bơ vơ, cô đơn, không người tri kỉ, không người tâm sự; Nhà thơ dường như mang tâm trạng của một kiều nữ từng trải qua những thăng trầm của cuộc đời: khi tỉnh, khi gặt, còn bàng hoàng, tủi thân.

    Thơ bắt đầu bằng tình người, và thơ kết thúc bằng tình thân. Không có gì lạc lõng, bởi ở đây tiểu thanh và nguyễn du đã hòa quyện – một số cuộc đời lỗi lạc lỗi lạc của vô số người tài hoa và những mảnh đời bất hạnh của xã hội phong kiến ​​xưa.

    Bài thơ này thể hiện sự đồng cảm của Nguyễn Du đối với nhân dân! Nó không bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Nguyễn Du không chỉ yêu người sống mà cả người chết trăm năm. Yêu người khác là yêu chính mình, đó là hiện thân cao nhất của chủ nghĩa nhân văn. Đời người thì hữu hạn, mà nỗi khổ của con người thì vô hạn. Trái tim đa cảm của nhà thơ rất nhạy cảm trước nỗi đau lớn đó. Cũng như truyện của Joe, độc truyện thanh kí là kết tinh tư tưởng nhân văn của đại thi hào Nguyễn Du.

    Phân tích độc chất – Mẫu 6

    Hậu tố của Nguyễn Du được yêu thích. thanh hiền, hiệu là hồng sơn lập hộ, sinh năm 1765 tại làng Tiên Điền, huyện Nghệ Xuân, tỉnh Hà Tĩnh vào thời nhà Lê.

    Tên thật là Huang Jiaxuan, Quận công Nguyễn Nguyên, Tể tướng nhà Lê. Nhà Nguyễn Du là một gia đình nho học nổi tiếng, cả nhà đều là thừa tướng của nhà Lí nên thời bấy giờ được khen ngợi:

    Bao giờ cây khô, sông cạn, nhà tan.

    Gia đình Nguyễn Đức cũng là một gia đình văn học nổi tiếng. Nguyễn Nghiễm đã từng khắc cốt ghi tâm bài ca hùng tráng “Khổng Tử mộng Chu công”. Nước ta lúc bấy giờ có 5 danh nhân, nhưng họ Nguyễn có 2 họ (Nguyễn Dục và Nguyễn Đán).

    Nguyễn Du là con bà Trùm Trần Thị Tân quê ở huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh. Bà có 4 người con, Nguyễn Du là con thứ ba. Năm 2018, Nguyễn Du trúng tuyển tam trường (cử nhân) và bắt đầu cuộc đời phiêu bạt với vận mệnh nước nhà.

    Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi và phong Li Jiashen của tôi làm quan. Nhà vua còn ban cho Nguyên một vạn suất. Không thể từ chối, năm đó ông đến huyện Phù Dực, tỉnh Thái Bình làm tri huyện, sau được thăng làm tri huyện. Thường cùng tỉnh. Làm quan được mấy năm thì xin về cáo bệnh.

    Năm 1806, ông lại được triệu về kinh với tư cách là cử nhân Đông phương. Năm 1809, ông được bổ làm Tổng đốc Quảng Bình (tức Bố chính). Năm 1813, ông được thăng làm Chính công cử nhân, được vua An Nam phong làm chánh sứ. Thời gian này, Nguyễn Du viết Bắc hành tạp lục. Sau khi trở về từ một nhiệm vụ, anh được thăng chức trong bữa tiệc của người thân và bạn bè. 1820; Ngày mồng mười tháng tám năm Canh Tuất, ông được lệnh xuống tàu lần thứ hai và qua đời vì bạo bệnh.

    Bài thơ “Shan Tie Qing Ji” là một bài thơ chữ Hán nổi tiếng, được đưa vào tuyển tập thơ, thể hiện tấm lòng xót thương, đồng cảm của nhà thơ đối với người phụ nữ tài hoa và nhiều mộng tưởng này.

    Nguyễn Du và Tiêu Thanh là hai người xa lạ. Vậy Hiểu Khánh là ai?

    Tiêu Thanh là một cô gái Trung Quốc vừa có tài vừa có sắc đẹp, sống vào đầu thời nhà Minh. Cô ấy tài năng và thông minh, vì vậy cô ấy đã thông thạo thơ ca, âm nhạc và các nghệ thuật khác từ khi còn nhỏ. Năm 16 tuổi, cô trở thành vợ lẽ của một gia đình quyền quý. Người chồng ban đầu ghen tuông và bắt cô ra ở riêng trên núi, gần hồ. Nỗi đau và nỗi đau của cô ấy đã được viết thành những bài thơ của cô ấy, nhưng những bài thơ đã bị người bạn đời ban đầu của cô ấy đốt cháy, nhưng một số bài vẫn tồn tại. Những bài thơ đó được khắc tên, ghi dấu tích. Trong trường hợp đó, thanh niên bị bệnh ở tuổi 18. Thơ chữ Hán dịch sang văn xuôi:

    Những luống hoa phía Tây hồ trở thành bãi đất hoang. Chỉ thăm nàng qua một cuốn sách chàng đọc bên cửa sổ. Phải có thần hóa trang, sau khi chết nhất định phải hối hận. Văn chương không có phận sự cũng bị đốt cháy. Hận xưa khó hỏi trời. Sống một cuộc sống sung túc và nhàn hạ mang chính cụm từ này. Tôi coi mình là một phần của cùng hiệp hội với người đàn ông đã phải chịu một sự bất công kỳ lạ vì lịch sự. Không biết hơn ba trăm năm sau trên đời còn có ai khóc như vậy?

    Bài thơ hay đến nỗi đã có nhiều người dịch ra tiếng Việt. giản chi, nguyễn quang tuấn, vu tam băng đều được dịch ra thơ, đặc biệt vu hoàng chương xuất hiện trong thơ lục bát. Dù ở hình thức nào, dịch giả vẫn không đi chệch nội dung bài thơ. Sau đây, chúng ta cùng tìm hiểu và cảm nghiệm bài thơ này theo bản dịch gồm ba tập.

    Hai bài thơ:

    Hồ Tây cảnh đẹp, chú gấu trúc như chiếc lông chim, khóc nức nở bên trang giấy rách.

    Tuy bài thơ không được sáng tác tại chỗ (Hồ Tây) nhưng lại là một câu thơ tả cảnh ngụ tình. Đây là khung cảnh trong tâm trí nhà thơ. Nhưng nó đúng. Nhà riêng của các gia đình giàu có chắc chắn rất đẹp, và vẻ đẹp của Hồ Tây nổi tiếng. Thực tế là như vậy, nhưng cuộc sống của cô gái không phải như vậy, và nhà thơ không phải như vậy. Cảnh đẹp ấy đã “biến thành ngọn đồi nhỏ” trong tâm trí nhà thơ. Thật là một ngọn đồi nhỏ để xem! Nhưng đó là mồ mả không người viếng (truyện kiều), còn người nằm dưới đất càng thêm lạnh lẽo, cô đơn. Cô gái vô hồn nằm giữa lòng một “đồi trọc” khác chỉ còn lại “một tờ giấy rách” trên đời, đó là di cảo cuốn nhật ký của Xiaoqing. Chính hai chi tiết này, hai hình ảnh “đồi hoang” và “tờ giấy rách” đã khiến nhà thơ “khóc bên sông”. :

    Nếu có chôn cất thần thánh, tôi vẫn ghét Wen và không muốn đốt nó.

    Có nghĩa là “trang điểm” để chỉ các bé gái. tiểu thanh đã mất (và đã được chôn), nhưng linh hồn của cô phải tiếc, giận những người đã đốt cháy những trang thơ của cô. Có hai lý do “ghét”: ghen tuông mù quáng đã giết chết chị, đốt đi những trang thơ không có số phận, chưa kịp đốt đi như những tiếc nuối (còn muốn), để lại cho muôn đời sau.

    Trên đây là những câu thơ cảm thương người tài mà bất hạnh. Từ đó, nhà thơ mở rộng ra hai luận đề:

    Nhà thơ như muốn an ủi cô gái nhỏ, tự nhủ xưa nay có nhiều người tài giỏi nhưng số phận kém may mắn. Chỉ có Chúa mới hiểu được. Nhưng cho dù có đạo trời biết, cũng không thể ngăn cản lòng đố kỵ của thiên hạ cung phi đối với tài phú quý nhàn hạ. Mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

    Trong nhân gian mấy trăm năm, hai nhân vật tài hoa và phúc khí đều có ý ghét bỏ nhau.

    Vốn dĩ, các bậc văn nhân cổ đại dùng thuyết tương sinh này để mô tả cuộc đời của những người phụ nữ xinh đẹp và đức hạnh nhưng phải chịu nhiều sự đối xử bất công. Ruan Yong viết truyện về nam và nữ, Ruan Jiashao viết truyện về các cung nữ hoài nghi, truyện về Tang Chenkun và những kẻ chinh phục … Đây là những cuộc sống khác nhau.

    Đặc biệt là Nguyễn Du, nhà thơ đặc biệt quan tâm đến cuộc đời của những người phụ nữ vừa xinh đẹp vừa tài năng. Đó là đương quy phi, tiểu thanh, cô gái đánh đàn trong rồng bay lên trong thơ chữ Hán, là nàng tiên trong truyện kiều, thuý kiều. Đây là những điều mà nhà thơ đồng cảm, đồng thời chúng cũng hàm ý “người đời ghen ghét lạ lùng” so với địa vị của mình.

    Không biết hơn ba trăm năm sau còn có ai khóc như vậy?

    Đó là dự cảm của nhà thơ về số phận của chính mình. Cùng với tiểu thanh, cuộc đời bất hạnh của người đàn bà xa lạ đã làm thi nhân khóc biết bao nhiêu, dẫu nàng sống trước thi nhân mấy trăm năm, không biết ba trăm năm sau có ai thương tiếc, khóc thương thi nhân?

    Biết được số phận của quán bar nhỏ, Ruan Du nghĩ đến số phận của chính mình. Đúng, nhưng như đã viết ở trên, nhà thơ nghĩ về Nho giáo và thân phận của những bậc hiền tài trong đó có ông. Đó là sự đồng cảm của “tình yêu gặp lại tình yêu”, giống như Cui Qiao trước ngôi mộ của Dantian, “Làm sao bạn biết khi bạn nhìn thấy người nằm đó?”

    Tại mộ Đàm Tiến.

    Joe tin rằng: “Người tài, thác nước là thể dĩ thái, và họ cũng là những người ưu tú”

    Dư luận, bao giờ cũng vậy, rất công bằng trong việc nghiên cứu và sàng lọc những “tinh hoa” của các “anh tài”. Những gì chúng ta thấy trong tục ngữ, ca dao, tác phẩm văn học thời xưa vẫn còn lưu truyền đến ngày nay. Ngay cả câu chuyện về Lian Qiao, hay câu chuyện về bác sĩ Daoqing của Ruan Du, đã được lưu truyền hơn hai trăm năm, và nó vẫn đang được lưu truyền, và nó sẽ còn được lưu truyền trong một thời gian dài.

    Phân tích độc chất – Mẫu 7

    “Độc truyện thanh ký” là một câu chuyện đời thường được Nguyễn Du kể lại bằng những dòng chữ trong sáng, ngắn gọn. Đây được cho là bài thơ chữ Hán hay nhất của ông, được sưu tầm trong Qing Xian Qie Ji. Đoạn thơ là lời than thở, thương tiếc cho số phận của một người con gái tài hoa nhưng bất hạnh.

    Bài thơ này được lấy cảm hứng từ câu chuyện cảm động của một cô gái sống ở đầu đời. Nhưng vì xuất thân nghèo khó, nàng gả vào một gia đình giàu có, sống thanh nhàn cả đời. Nhưng người vợ đầu tiên ghen tuông và để cô ấy sống riêng trong ngôi nhà ở núi Gushan. Trong những năm sống ở đó, cô đã viết hàng trăm bài thơ bày tỏ cảm xúc và tình cảnh cô đơn của mình. Ngay sau đó, bị tàn phá bởi đau buồn, cô ấy chết trẻ. Người vợ ban đầu đã đốt hết những bài thơ mà cô ấy viết, nhưng vẫn còn một số bài, sau đó được lệnh chép lại và đặt tên là “Tàn dư” để ghi nhớ cuộc đời đầy bất công của mình.

    Nguyễn Du khi bắt gặp những bài thơ này đã cảm thấy ngậm ngùi, xót xa cho tài năng và số phận của mình. Và qua vai diễn này, anh đã ngẫm lại cuộc đời mình và nhận ra rằng cuộc đời còn quá nhiều bất công và khổ nạn.

    nguyen du mở ra với không gian nơi cô thiếu nữ từng sống:

    Những ngọn đồi miên man của Hồ Tây, khóc bên trang giấy khô

    Hai câu thơ có dư vị và sức ám ảnh mạnh mẽ, khiến người đọc liên tưởng đến những không gian, khung cảnh xa xăm – nơi cô gái bất hạnh đã từng sống. Hồ Tây vốn duyên dáng nay đã biến thành một ngọn đồi hoang vắng và quyến rũ, bởi có một người con gái đã vĩnh viễn chôn vùi tuổi thanh xuân của mình tại đây.

    Những cảm xúc chất chứa ấy, chị đã diễn tả bằng những vần thơ đầy nước mắt. Hình ảnh người con gái đã có chồng và chưa chồng một mình ôm những mẩu giấy vụn “ngậm ngùi” bên cửa sổ đã viết lên nỗi lòng của mình. Không có gì buồn và bi đát hơn việc “có chồng lạnh nhạt mà không lạnh lùng”. Cuộc đời của một người phụ nữ có cả tài lẫn sắc trong xã hội phong kiến ​​dường như bị chà đạp như vậy.

    Nguyễn Du có cảm giác như tờ giấy rách vẫn còn vương vấn trong tâm hồn cô, không tài nào dứt ra được.

    <3

    Hai câu thơ này thể hiện nỗi xót xa, chua xót tột độ của Nguyễn Du khi nghĩ đến người con gái bạc mệnh. 300 năm đã trôi qua nhưng hình ảnh của bà vẫn còn đó khiến thế hệ mai sau không khỏi tiếc thương. Tác giả dùng từ “trang điểm” để miêu tả vẻ đẹp của những cô gái, dù xinh đẹp đến đâu cũng sẽ bị đánh đập, chà đạp không thương tiếc, cuối cùng phải ôm hận đến chết. Những bài thơ cô viết đã bị đốt cháy và vẫn còn được lưu truyền cho đến ngày nay.

    Có hai bài báo bày tỏ sự cảm thông và tiếc thương cho người tài hoa này:

    Trời Cổ Hối Hận Yêu Cầu Khách Tự Mang Đồ Sang Trọng

    Bài thơ hai câu đầy tuyệt vọng, than thở và nặng trĩu. Hỏi trời, trời thắc mắc, trách vô ơn bạc nghĩa. Nguyễn Du hỏi một câu sắc bén, nhưng chịu không ít. Những mỹ nhân có cả tài lẫn sắc xuyên suốt các thời đại dường như đều phải gánh chịu một “tội nhân” độc ác không thể thoát khỏi, hay xã hội phong kiến ​​đã đẩy họ vào con đường cay đắng. Chào.

    Còn hai câu cuối, tác giả dồn vận đen của người phụ nữ tài sắc ấy vào mình

    Không biết ba trăm năm nữa có ai khóc không?

    Nghĩ đến mình 300 năm sau, một câu hỏi tu từ đầy ngậm ngùi chua xót. Thiếu Thanh vẫn khiến độc giả 300 năm sau xót xa, day dứt, nhưng liệu họ có còn như thế không, hay đã tan thành cát bụi.

    Một câu hỏi có giá trị nhân văn cao cả, ông muốn hỏi lòng người khi nghĩ về số phận của những tài năng sau những ngày tháng của họ. Từ cuộc đời tài hoa nhưng bất hạnh của tiểu thanh, ông nghĩ đến cuộc đời đầy sóng gió của mình. Những vần thơ còn khiến người đọc phải suy nghĩ, đau xót và xót xa gấp trăm ngàn lần.

    Bài thơ “Một cảnh” của Nguyễn Du là một kiệt tác khiến người đọc đồng cảm với số phận bất hạnh của nhiều người trong xã hội và lên án xã hội chà đạp nhân phẩm của họ.

    Tiểu thể loại Đọc Phân tích Bài viết – Mẫu 8

    Thơ Nguyễn Đức sừng sững như kim tự tháp giữa trời bao la. Mỗi mặt trong số ba mặt của kim tự tháp đó đều có một vẻ đẹp riêng. Mặt trước vẽ màu “kiều kiều”, “lời hạt, hàng gấm thêu”. Mặt sau của cấu trúc là một “thác nước trai gái” bằng vật liệu mộc mạc và “văn hóa sống của hai cô gái sống lâu”. Phía bên phải của thân tháp là các lớp men ngọc và khối đá granit, có khắc các chữ như “Qingwu”, “Namzhongtan Dian”, “North Zen Talu”. Nhân dân ta rất tự hào về Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du.

    Nếu “Kiều kiều truyện” là kiệt tác miêu tả những vui buồn của cuộc đời của Nguyễn Du, thì những bài thơ chữ Hán lại trực tiếp thể hiện sự khám phá thế giới tài tình của ông. Ẩn chứa trong sâu thẳm tâm hồn nhà thơ. Nhà thơ Xuân Diệu viết: “Đây là một bài thơ chữ Hán, chứa đựng hình bóng, cuộc đời, nét mặt, mái tóc, vết chân, tình cảm và suy nghĩ của Nguyễn Du”.

    Từ những tình cảm ấy, mỗi chúng ta đều xúc động khi đọc bài thơ “Lương y Trương Thành Cơ” của Thủ tướng. Ai là trẻ vị thành niên? Sống trên đời nàng là một cô gái “nổi tiếng cả tài lẫn sắc”. Cô ấy giả làm một doanh nhân có họ. Đối tác ban đầu đánh cô vì ghen tuông, và buộc cô phải “biệt phủ” trong một ngôi nhà trên ngọn núi cổ kính bên hồ. tiểu thanh có một tập thơ viết về cuộc đời khát khao hạnh phúc và nước mắt. Tiểu Thanh bị tra tấn đến chết ở tuổi mười tám. Bà mất nhưng tập thơ của bà vẫn bị vợ đốt trong một đêm, may là còn mấy trang và mấy bài thơ, được thiên hạ chép lại thành cặn bã. Trên đường đi chơi Hồ Tây, nhà thơ Nguyễn Du đã đến viếng mộ Tiểu Thanh và đọc hồi ký của nàng. Đọc xong hai câu trong nhan đề, chúng ta có thể cảm nhận rõ điều này. Quả thật có một bài thơ “Dao Chengji” trong “Beichan Talu”.

    Khi Nguyễn Du đến Ci (1813) để vượt qua Hồ Tây, cô ấy đã bị chia cắt bởi sự sống và cái chết, hơn 300 năm trước. Bao nhiêu thứ đã thay đổi sao biển dâu ơi biển dâu. Có bao nhiêu bài thơ hay của một cô gái nhỏ đã khiến một nhà thơ Giang Nam phải bật khóc? Mở đầu bài thơ đầy ngậm ngùi:

    “Vườn hoa Tây Hồ đến thành khu, độc thân thôi, mà tiền nhiều nhất cũng chỉ là thư”

    “vườn hoa” và “khu” là hai khái niệm chuyển đổi trái ngược nhau. Ngày xưa khung cảnh đẹp là thế mà giờ hoang tàn, điêu tàn. Từ “cuối cùng” có nghĩa là kết thúc và kết thúc. Một màu tang tóc bao trùm đất trời. Trong gò đất hoang tàn đó, tất cả những gì còn sót lại là những nấm mồ của những người đã chết và một mảnh giấy rách nát (đặc biệt là bức thư). Nhà thơ đứng một mình bên cửa sổ, đọc “giấy vụn” của kẻ bất hạnh. Thương một cuộc đời đổ vỡ cũng là thương người khác, thương người bất hạnh cũng là thương mình. Lòng thương xót và lòng thương xót. Đó là sự đồng cảm của khách tài tử đối với vẻ đẹp bất hạnh, sự đồng cảm của người sống đối với người đã khuất. Hơn ba trăm năm sau khi qua đời, những “mảnh giấy vụn” của nàng vẫn khiến Nguyễn Du bật khóc!

    Hai câu thơ ở phần thực dường như chứa đầy nỗi buồn như:

    “Không thể thêm tinh thần hậu văn học hữu thần”

    “chỉ phấn” là một thỏi son tượng trưng cho vẻ đẹp của thanh nhỏ. Văn học là hiện thân của tài năng của cô. Việc Nguyễn Du đặt câu hỏi về cuộc sống và con người là để khẳng định: đồ trang điểm có linh hồn, và con người sau khi chết vẫn sẽ thương tiếc cho nó. Văn chương có số phận ra sao, người ta còn quan tâm đến những vần thơ còn sót lại sau khi bị đốt! Trang điểm và văn học chứng kiến ​​cuộc sống, kể về nỗi khổ của con người, ly hôn! Vì vậy, trang điểm và sắc đẹp là “thần”, cũng giống như Trịnh Sảng, tuyển ngựa, đương quy phi… cũng như hoa tàn, hương hoa và hồn hoa, hồn hoa vẫn nở, cái hay của cái đẹp đúng như cái tên của nó: “Thác là thân thanh tao, vẫn là ưu tú”. Nỗi hận và nỗi sầu của “trang điểm” chính là nỗi đau và nỗi hận của cô thiếu nữ: “Tuổi trẻ bị chôn vùi, cái đẹp bị vùi dập! Văn chương là tài hoa và vẻ đẹp tinh thần của tiểu thanh. chết theo cách đó.Và một “mảnh giấy thối” của một con người xấu số, “vẫn can đảm sống cùng năm tháng”, chống lại cái thiện và cái ác, vươn lên để tồn tại, đau thương quá khứ và hiện tại.Nguyễn Du nói về “trang điểm” và “văn chương” chắc chắn phải ngợi ca tài năng của tiểu thanh và tất cả các diễn viên trong cuộc đời làm dâu. Còn bản thân nguyễn du, từ “giấy rách”, mặt đỏ bừng kể nỗi oán hận ngàn năm của tiểu thanh, cảm thấy Tài năng của nghệ sĩ đến đây!

    Nghĩ đến cái hay cái đẹp của thiên hạ, Nguyễn Du bùi ngùi suy tư về ý nghĩa chân chính của cuộc đời và bản chất con người giữa đủ loại ân oán:

    “Gu Jin ghét sự đau khổ của tự nhiên, và phước lành đến từ sự bất công”

    Những ân oán xưa nay khó hỏi. Đất dày, trời cao, “tội này như trời khóc” (“Hải ngoại sử ký”). Hãy hỏi Chúa, bởi vì bạn không thể hỏi mọi người. Khi “bí bách” đồng nghĩa với bế tắc, oan khổ bị đày ải khắp nơi. Những vần thơ như đưa tiễn, lay động thế giới. Và với sự xui xẻo kỳ lạ đó, tôi lại gượng ép mình. Thanh nhã và phong độ, cùng với hoa đào là vẻ đẹp và bản sắc của con người. Có bao nhiêu người trong cuộc sống của chúng tôi là thanh lịch? Phong cách là giấc mơ của nhiều người. Vì sao gọi nguyen du là “án phong”? Khách nhân nên hưởng cuộc sống nhàn nhã, cần gì phải tự làm nhục mình? Đó là một nghịch lý, một nghịch lý. “Nhất phẩm nhì tài!” Bao đời nay, “án lệ” ấy đã làm ngán ngẩm biết bao kẻ có khách. Nguyễn Du không phải là một trong những “nghệ sĩ già khóc nhè” mà bước vào một quán bar nhỏ và nói những lời đã hành hạ và ám ảnh biết bao thế hệ. Đó là cách những vị khách nghiệp dư giàu có đối xử với mỹ nhân tóc bạc. Họ tài giỏi, xinh đẹp và khao khát cái đẹp nên nảy sinh tình cảm với nhau. Nguyễn Du cảm thương cho dương phi cô ly “nức nở” bằng giọng nói nhỏ nhẹ, mang âm hưởng của một khách tài tử. Anh yêu cô như yêu chính bản thân mình! “doc tieu thanh ky” là một bài hát buồn da diết và tủi thân:

    “Ba trăm tuổi vô tình, người nóng như Tinh Hà”

    nguyen du là “nhân tài trong đời. tiểu thanh là khách đẹp. nguyễn du phát hiện ra “căn bệnh chung” giữa mình và cô gái ấy. Diễn viên lao tâm, hồng nhan, kiếp bạc. tiểu thanh đau đớn qua đời, để lại hậu thế bức “bức thư đầu tiên”, một mảnh giấy rách mà hơn ba trăm năm sau Nguyễn Du vẫn xót thương cho số phận của nàng Nhà thơ tự nhủ: hơn ba trăm năm sau khi ông mất, nhân gian có còn ai thương anh ấy? Cả hai kết thúc đều nổi tiếng. Ai đã đọc Ruan Du sẽ nhớ. Tôi vẫn thích hai bản dịch của Xuandi:

    “Ba trăm năm sau, ai sẽ khóc như thế này?”

    Bài thơ giàu cảm xúc và quan niệm nghệ thuật. “Tấm lòng không giấu giếm thoáng chốc lộ ra, bức màn hơi nghiêng, có thể nhìn thấy cả một thế giới không nói nên lời” (“Man Ruan Du in Chinese Poem” – Emperor Xuan). Bài thơ như một tiếng kêu thương tiếc cho số phận của anh. Nơi đất khách quê người, trong những ngày truyền giáo. Tử Tình dường như ngày càng bơ vơ, không người tri kỷ, một mình ôm mối hận với người đã mất: “Trên đời có ai khóc thế này không?”.

    Nhà thơ Du You đã viết câu Ruan Du “Thơ của anh ấy kinh thiên động địa…”. Sau khi Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự tử. Nguyễn Du nghẹn ngào nói:

    “Sống một cuộc sống khủng khiếp thay vì sử dụng tài năng của mình thì có gì sai?”

    Trong bài thơ “Đạo sĩ Trương Thành Công”, ông bùi ngùi hỏi: “Có thần hóa trang, còn hận-văn chết còn cháy?”. Đoạn thơ cho ta thấy sức đồng cảm sâu sắc với con người của Tố là vô cùng to lớn. Đời người là hữu hạn, nỗi khổ của con người – số phận con người là vô hạn. Đọc bài thơ “Đạo sĩ Trương Thành Công” ta thấy rõ hơn tâm hồn của nhà đại thi hào dân tộc này, hiểu hơn những tình cảm nhân văn chứa đựng trong những bài thơ chữ Hán của nhà thơ.

    Đọc phân tích chiến lược cơ bản – Mẫu 9

    Nói đến Nguyễn Du, điều đầu tiên người ta nghĩ đến là “Truyền kỳ mạn lục”, bởi đây là một kiệt tác của thơ ca trung đại Việt Nam. Tuy nhiên, ngoài Kiều truyện, Nguyễn Du còn viết nhiều bài thơ, bày tỏ sự cảm thông, thương xót cho số phận bất hạnh của hồng nhan. Trong số những bài thơ này, “Dao Chengji” là tiêu biểu nhất.

    Bài thơ “tiều tiểu thanh” được lấy cảm hứng từ một câu chuyện có thật của một cô gái sống vào đầu thời nhà Minh. Cô gái tên là tiểu thanh, cô ấy có vẻ đẹp hoàn hảo và thi vẽ rất giỏi. Nhưng gia đình cô nghèo khó nên cô lấy vợ lẽ của một gia đình giàu có. Vì ghen tuông với người vợ ban đầu, anh ta đã ép cô ra ở riêng tại Gushan gần Hồ Tây. Trong những ngày cô đơn ấy, Hoa hậu đã làm thơ để nói lên hoàn cảnh và nỗi lòng của mình. Ngay sau đó, ở tuổi mười tám, cô qua đời vì quá trầm cảm. Bà cả đốt hết thơ, chỉ còn một ít. Mọi người thấy bài thơ hay nên chép lại và đặt tên là “Tuyển tập tàn dư”.

    Khi Nguyễn Du đọc những vần thơ của nàng, chàng đã bày tỏ sự cảm thông, thương cảm sâu sắc cho một người tài hoa nhưng số phận bất hạnh. Trong lúc xót xa cho cô, tác giả cũng nghĩ đến mình, từ đó nhận ra sự bất công, nhọc nhằn của cuộc đời.

    Ngay từ đầu bài thơ, không gian nơi cô gái từng ở gợi lên một nỗi buồn xa vắng:

    Những ngọn đồi miên man của Hồ Tây, khóc bên trang giấy khô

    Đọc hai câu thơ, người đọc hình dung ra một khung cảnh hoang vắng đâu đó của núi rừng. Ở đó, chỉ có một cô gái lẻ loi ngồi trên lầu. Cảnh quan Hồ Tây tuy đẹp nhưng biến thành hoang vắng, hiu quạnh và đồi núi hiu quạnh. Tại sao một cô gái trẻ không thể được chôn cất ở một nơi hoang vắng như vậy?

    Bà đã diễn tả những nỗi niềm ấy bằng những vần thơ buồn, tha thiết. Hình ảnh những tờ giấy vụn “nức nở” bên cửa sổ cũng gợi lên câu chuyện chị bị chồng ghen tuông đốt. Giờ chỉ còn lại “giấy vụn”, nhưng tiếng “thút thít” đau đớn không biết giải bày cùng ai cũng đủ khiến người ta thấy thương. Có lẽ, số phận của cô cũng là số phận chung của nhiều thiếu nữ trong xã hội phong kiến ​​bấy giờ. Đời người tài hoa thường bị vùi dập, thật đáng thương.

    Nỗi nhớ mong đau đớn của cô gái nhỏ dường như có nhiều ám ảnh khiến Nguyễn Du cảm thấy như tờ giấy rách vẫn còn vương vấn trong tâm hồn cô gái bất hạnh:

    Son đậm có chúa chôn, còn hận văn không đời đốt

    Tác giả dùng từ “trang điểm” để miêu tả vẻ đẹp của người con gái. Nhưng vẻ đẹp và tài năng ấy đã bị vùi dập một cách tàn nhẫn. Mảnh giấy bạc màu đó dường như vẫn mang theo nỗi buồn và sự phẫn uất về cái chết oan uổng của cô. Vì cái chết tức tưởi của cô, mọi người không khỏi xót xa cho kết cục của cô. Không những thế, nhiều trang thơ trữ tình chị viết cũng bị đốt. Chỉ còn lại vài mảnh giấy. Có thể thấy, xã hội phong kiến ​​không chỉ muốn lấy đi tuổi dậy thì của người con gái mà còn bóp chết cả thiên tài.

    Nói đến đây, nhà thơ Nguyễn Du không khỏi xót xa cho số phận của cô gái trẻ:

    Trời Cổ Hối Hận Yêu Cầu Khách Tự Mang Đồ Sang Trọng

    Một làn sóng tuyệt vọng, u uất và u uất cuộn xoáy trong lòng! Cô gái hỏi Chúa về nỗi bất bình của mình, nhưng Chúa không hiểu, đổ lỗi cho sự không chung thủy, ai sẽ tốt hơn. Nỗi bất bình ấy dường như đã trở thành lời “kết tội” một người tài hoa. Có tài nhưng kém may mắn. Biết được điều này, Ruan Du đã đặt câu hỏi và sau đó nhận ra sự thật phũ phàng. Là số mệnh vốn có của họ, hay chính xã hội phong kiến ​​đã bắt họ phải chịu cái chết oan uổng như vậy? Câu trả lời có thể khiến độc giả đau khổ đến hết cuộc đời.

    Và ở hai câu cuối, tác giả đã thao túng số phận của cô gái trẻ từ số phận bất hạnh của mình, để lại cho người đọc một câu hỏi về số phận của người tài hoa:

    p>

    Không biết ba trăm năm nữa có ai khóc không?

    Một câu hỏi chất chứa bao ngậm ngùi, tiếc nuối. Ba trăm năm sau, những vần thơ của bà vẫn khiến người đời tiếc thương. Tuy nhiên, ba trăm năm sau, liệu có ai “khóc như thế?”. Câu hỏi này dường như lơ lửng trong đầu người đọc. Liệu người ta còn nhớ hay đã quên một số phận bi đát và tài hoa như vậy? Vào thời điểm đó, đây thực sự là một câu hỏi mở. Thì ra hôm nay đã ba thế kỷ trôi qua nhưng chúng ta vẫn nhớ và nhắc đến tài hoa của Nguyễn Đức. Điều này cho thấy dù thời gian có trôi qua bao lâu thì tài năng và giá trị của những con người kiệt xuất vẫn luôn được trân trọng và thấu hiểu.

    “Bất hạnh” là bài thơ nói về số phận bất hạnh của một con người tài hoa nhưng bất hạnh được gửi gắm đến bạn đọc. Đồng thời tác giả cũng muốn nói lên hiện thực xã hội phong kiến ​​tàn ác đã đẩy con người vào ngõ cụt, chà đạp nhân phẩm, bóp chết nhân tài.

    Bài viết phân tích cách đọc dấu thanh phụ – mẫu 10

    Các nhà thơ trung đại ít đề cập đến đề tài phụ nữ nhưng đại thi hào Nguyễn Du lại hết mực trân trọng và yêu thương phụ nữ. Bên cạnh kiệt tác thơ nông nghiệp Truyện Kiều miêu tả người phụ nữ trong xã hội phong kiến, bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí cũng là một kiệt tác viết bằng chữ Hán về đề tài này.

    Nguyễn Du đã làm một bài thơ trong chuyến viếng thăm Trung Quốc cho nhà Nguyên. Một bài thơ có tựa đề chữ Hán là “đọc tiểu thanh” đưa ra vài cách hiểu. Có người cho rằng Nguyễn Du đã đọc một tập truyện về cuộc đời của một người phụ nữ và cảm thấy tiếc cho số phận của người phụ nữ tài năng đã viết bài thơ này. Nói cách khác, Nguyễn Du đã đọc tập thơ mà cô để lại và bày tỏ sự ngưỡng mộ và tiếc thương cho cuộc đời của cô. Dù thế nào, ta cũng thấy rằng, trên hết, nó thấm đẫm tình yêu cuộc sống, tình người của nhà thơ.

    tiểu thanh là một cô gái thông minh, xinh đẹp và tài năng sống cách đây 300 năm vào đầu thời nhà Minh ở Trung Quốc từ Nguyễn Du. Dưới áp lực của gia đình, cô kết hôn với một gia đình nổi tiếng làm vợ lẽ. Vì sự ganh ghét, đố kỵ của người bạn đời ban đầu, cô buộc phải ra ở riêng tại Gushan cạnh vườn Tây Hồ. Ông chỉ có thể làm bạn với thơ mỗi ngày, rồi lâm bệnh và qua đời một mình năm 18 tuổi. Hầu hết những bài thơ cô để lại đều bị người bạn đời ban đầu đốt cháy, chỉ còn lại một số bài thơ, sau này được thu thập và gọi là “tàn dư”.

    Toàn bộ bài thơ là cảm hứng từ niềm thương cảm sâu sắc của Nguyễn Du đối với số phận của chính mình. Cũng chính từ sự đồng cảm sâu sắc ấy, anh nhận ra sự bất công của cuộc đời, và yêu người khác hơn chính bản thân mình. Trước khi đến với bài thơ, trước tiên chúng ta đến với không gian đầy ấn tượng nơi người phụ nữ này đã từng sống dưới sự lãnh đạo của nhà thơ:

    “Taihehua Lily hút thuốc, nhưng nhiều tiền nhất chỉ là một lá thư”

    (Vẻ đẹp Hồ Tây biến thành ngọn đồi, thổn thức bên trang giấy vụn)

    Chỉ có một từ “cạm bẫy” mà dư vị mạnh mẽ, ám ảnh người đọc. Bản dịch thơ chưa hoàn toàn tách khỏi nghĩa của từ “thảo luận”. Có nghĩa là tiêu diệt, tàn phá chứ không đơn giản là “biến thành gò đống”. Chỉ riêng chữ “Tống” đã có sự tương phản rõ rệt giữa cổ đại và hiện đại. Hồ Tây từng là một thắng cảnh đẹp và hữu tình, nhưng bây giờ nó chỉ là một bãi đất hoang cằn cỗi. Bài thơ nghe buồn quá! Độc giả có thể tưởng tượng tiểu thanh khi còn sống là phong cảnh mê người, bây giờ mỹ nhân không còn, mỹ nhân cũng không còn. Đứng trước cảnh ấy, nhà thơ Nguyễn Du cảm thấy chạnh lòng ngay, và đứng bên cửa sổ với cuốn sách trên tay, ông càng cảm thấy thương hại hơn. “Lẻ loi” nói lên nỗi cô đơn, lẻ loi khi nhà thơ du hành xuyên thời gian, không gian trở về quá khứ để khóc thương cho tiếng nói nhỏ nhoi của mình. Vạn vật đổi thay theo dòng thời gian, và tên tuổi của người con gái tài hoa nhưng bất hạnh thuở ban mai giữa đời có lẽ sẽ dần bị lãng quên theo năm tháng. Bài thơ này như tiếng thở dài xót xa của Nguyễn Du trước số kiếp của Hồng Nhân và Bạc Mệnh.

    Có tới hai câu thực là hình ảnh tượng trưng:

    Xem Thêm: Sinh con gái năm 2021 đặt tên gì hay, ý nghĩa, hợp tuổi ba mẹ

    “Hữu thần, hữu thần, hậu văn học không còn thời gian chăm sóc”

    <3

    Nhắc đến “trang điểm” và “nghệ thuật”, chúng ta nghĩ ngay đến vẻ đẹp và tài năng của các cô gái trẻ. Vẻ đẹp và sự ngây thơ vẫn bị người khác ghen tị, và tài năng cũng bị đánh đập không thương tiếc. Hai câu kết thể hiện niềm tiếc thương của nhà thơ đối với người tài nữ tài sắc vẹn toàn. Cô ấy chết trẻ và sáng tác của cô ấy đã bị đối tác ban đầu của cô ấy phá hủy, chỉ để lại “những mảnh vỡ”. Dù cách xa nàng ba trăm năm, nhưng Nguyễn Du nhân từ có thể hiểu được nỗi oan mà nàng đã phải chịu đựng. Đoạn thơ cũng thể hiện quan niệm “tương mệnh” của Nguyễn Du. Trong các tác phẩm của ông, chúng ta thường gặp những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng cũng gặp phải những mâu thuẫn, khó khăn như Đan điền và kiều nữ. Vì vậy, Nguyễn Du cũng đã đúc kết thành một câu thơ có sức khái quát cao:

    “Đàn bà nói ra thì khổ, xui là chuyện thường”

    (Truyện Kiều-Nguyễn Du)

    Cỏ khô:

    “Đàn bà đẻ đau ở đâu?”

    (văn chiu hồn- nguyễn du)

    Cái mới của bài thơ “Đọc tiểu thanh” là ở chỗ nhà thơ đã mang đến một giọng điệu nhân đạo độc đáo. Điều này được thể hiện ở dòng 5 và 6 của bài thơ:

    “Gu Jin ghét thiên tai, bất công và ích kỷ”

    <3

    Nguyễn Du tưởng mình cùng thuyền với người mất, bèn kêu lên. Vì sao người tài thường gặp nhiều gian truân, câu hỏi này dường như không có lời giải đáp, phải chăng người tài luôn chịu số phận “dữ”? Trong kiệt tác “Hải ngoại ký sự”, nhà thơ từng tâm sự “lắm mối tài ghen của thiên hạ”, để rồi “thói đánh ghen má hồng”. Nếu sống ở một xã hội khác, một người tài giỏi như cô có lẽ sẽ không phải chịu nhiều bất công như vậy, sẽ không bị hành hạ như thế này. Bài thơ này thể hiện niềm khao khát nhân tài của Nguyễn Đức.

    Cuối bài thơ là tâm trạng đáng thương và chua xót của Nguyễn Du:

    “Không biết ba năm sau Tinh Hà mọi người như thế nào?”

    (Ba trăm năm nữa ai sẽ khóc?)

    Tiểu Thanh đã đi xa cõi đời 300 năm nhưng vẫn có người thấu hiểu và đồng cảm với nàng. Nhà thơ tự hỏi, sau 300 năm, liệu còn ai hiểu mình? Một câu hỏi ám ảnh dường như đọng lại trong đầu người đọc khi nghĩ về số phận của những tài năng bấy lâu nay? Khép lại bài thơ này là niềm khao khát của nhà thơ lớn về người tri kỷ của mình trong cuộc đời này. Thực tế cho đến tận ngày nay, đã ba thế kỷ trôi qua nhưng chúng ta vẫn nhớ đến cái tên Nguyễn Du và những tác phẩm tiêu biểu của ông. Điều đó chứng tỏ rằng dù thời gian có trôi qua bao lâu thì người tài vẫn luôn được kính trọng và yêu mến vì tài năng và giá trị của họ. Đây chính là điều làm nên giá trị nhân văn cao cả của bài thơ này.

    Nguyễn Du lên án mạnh mẽ sự đối xử bất công của xã hội phong kiến ​​đối với người tài nữ với tám chữ Hán, bảy chữ tám câu. Bài thơ mời người đọc đồng cảm với số phận bất hạnh của một người phụ nữ. Từ đó, mỗi chúng ta học được cách trân trọng, yêu quý và có ý thức bảo vệ những tài năng, sức sáng tạo của quá khứ và hiện tại.

    Phân tích tiểu thể loại bài đọc – mẫu 11

    Sắc đẹp và tài năng luôn là chuẩn mực sống và khát vọng của mọi người trong xã hội. Tuy nhiên, đối với Nguyễn Du, ông luôn có một niềm cảm thông và xót thương cho những mảnh đời bất hạnh của con người qua bao thời đại. Quan điểm này được thể hiện đầy đủ trong tác phẩm Độc tiểu thanh kể về người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng có cuộc đời bất hạnh, không trọn vẹn.

    Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XII. nguyễn du (1765 – 1820) nét chữ na ná, nét chữ rõ ràng. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Gia đình là nơi có ảnh hưởng lớn đến phong cách sáng tác của Nguyễn Du.

    Nguyễn Du có điều kiện tiếp thu những truyền thống văn hóa quý báu của quê hương, dòng họ và nhiều vùng văn hóa khác nhau, tạo điều kiện cho nghệ thuật tổng hợp. Ông sống trong thời kỳ xã hội phong kiến ​​Việt Nam đầy rẫy những khủng hoảng, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, cuối cùng hình thành nên phong trào Tây Sơn.

    Nguyễn Du đã sống, đã chứng kiến ​​và sống qua một thời kỳ đầy biến động của lịch sử dân tộc. Điều này được ghi lại trong các tác phẩm của ông, đặc biệt là tình huynh đệ của ông. Ông không chỉ nổi tiếng với tác phẩm “Quốc ngữ ngoại truyện” mà còn là một nhà thơ thông thạo chữ Hán với những tác phẩm đặc sắc.

    Phân tích Tốc tiểu thanh, ta thấy đây là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Du. Lấy cảm hứng từ những cặn bã (những gì còn sót lại của những bộ phận bị cháy), Trác Thu Thanh đã khắc họa rõ nét một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn nhưng lại có một cuộc đời đầy bi kịch và rắc rối khi làm vợ lẽ của người khác. Cuộc đời tiếng nói nhỏ nhoi khiến Nguyễn Du thương cảm vô hạn trước số phận nghiệt ngã, biến tiếng nói của mình thành thơ ca.

    Thân phận vừa là dân vừa là quân nhưng có số phận bi thảm và suy tư sâu sắc của Nguyễn Du là những đặc điểm chính khi phân tích Tiến sĩ Daocheng. Để có thể đi sâu phân tích chuyên khảo, người đọc cần đi theo mạch cảm xúc của toàn văn, theo trình tự bảy chữ tám câu, niêm luật tám dòng.

    Cảm nhận hai câu này khi phân tích “tiều tiểu thanh”. Mở đầu bài thơ là lời than thở của tác giả trước sự thay đổi đột ngột của cuộc đời:

    “Taihehua trong sáng và đĩ”

    (Vẻ đẹp Hồ Tây biến thành ngọn đồi, thổn thức bên trang giấy vụn)

    “Vườn hoa” trong câu đầu tiên là vườn hoa, tượng trưng cho quá khứ và khoảng thời gian tươi đẹp của tuổi trẻ. “Tân thành khu” có nghĩa là vạn vật hóa thành hoang, là sự chuyển mình của thời gian trước dòng đời tất bật. Khi phân tích độc tiểu thanh, ta thấy ở câu đầu tiên, nguyễn du mượn hình ảnh không gian mà tiểu thanh đã từng sống để bộc lộ cảm xúc của mình về thời thế đổi thay.

    Hồ Tây vốn là một chốn sơn thủy hữu tình, nhưng vì một người con gái đã vĩnh viễn chôn vùi tuổi thanh xuân của mình tại đây nên biến thành một gò đất hoang vắng và hữu tình. Tình thế khó lường, vẻ đẹp xưa nay đã tàn, chỉ còn lại dấu ấn của thời đại. Cảnh ngày xưa còn đó mà người xưa nay ở đâu? Ý tưởng này làm tôi nhớ đến hai câu thơ của cô thanh quan

    “Con đường xưa xe ngựa có hồn, nền cũ lâu đài bóng”

    (Rồng lên hoài niệm-Quận nữ Thanh Tuyền)

    Mọi thứ dường như mới xảy ra ngày hôm qua. Đáng buồn thay, tất cả điều này là một điều của quá khứ. Cảnh ngày xưa còn đó mà người xưa nay ở đâu? Khi phân tích “Dutiao Qing”, người đọc dễ dàng nhận thấy từ “độc” chỉ có nghĩa là độc. Còn cụm từ “đơn thư” là một quyển, một tờ còn sót lại. Trong không gian hoang tàn, Nguyễn Du ngơ ngác nhìn, đồng thời trên gương mặt cô độc cũng lộ ra suy nghĩ sâu xa.

    Nhà thơ đọc một mình về cuộc đời cô gái trẻ tội nghiệp. Một mình đối mặt với sự bất lực của cô tiểu thư về số phận của chính mình. Sau khi đọc kỹ chuyên khảo, độc giả có thể biết được sự tồn tại của người phụ nữ tài hoa chỉ được biết đến trong sách, còn lại không khỏi khiến người ta xót xa.

    Trước đây, Xiaoqing sống một mình cho đến khi qua đời, nhưng bây giờ Ruan Du cũng đến thăm cô một mình, điều này cho thấy sự hiểu biết sâu sắc của cô ấy đối với Xiaoqing. Bài thơ là sự đồng cảm giữa hai tâm hồn cô đơn. Thời gian và không gian không vui “đồng điệu, đồng linh”.

    Hai câu tiếp theo làm rõ cảm giác xót xa. Chia buồn cho số phận bi thảm của cô gái nhỏ. Xinh đẹp và tài năng như vậy mà chết một mình thì thật đáng buồn.

    “Không thể thêm tinh thần hậu văn học hữu thần”

    <3

    “Văn học” và “thư giãn” là những phép ẩn dụ kích thích tư duy. “Lion Reaper Lipstick” là lớp trang điểm giống như Chúa phải để tang sau khi chết, hay là lớp son vẫn khiến người ta thương tiếc sau khi Chúa chết. “Văn Không Đời Đời” – tập thơ của chị, là tên gọi chung của văn chương, văn chương không có số phận cũng bị đốt, người có văn học không có số phận vẫn còn nghĩ đến nó. .

    Người đọc nhận ra rằng có thể tác giả đã mất, có thể bị lãng quên nhưng sức sống của tác phẩm thì còn mãi trong lòng người đọc. “Chi phấn – son phấn”, là biểu tượng cho vẻ đẹp và hình thức của người con gái. Các hình ảnh “trang điểm”, “wen” được nối với các từ láy như “ghét”, “phận” thể hiện cảm xúc và cuộc sống, tạo nên nét độc đáo của bài thơ. Với thái độ từ bi rõ ràng, dù là hóa trang hay văn chương, nếu có tâm hồn, sẽ vô cùng phẫn nộ và xót xa cho nỗi oan ức và đau lòng của những kẻ tiểu nhân.

    Vì sự ghen tuông của người vợ cả, Tiểu Thanh đã phải sống một cuộc đời đáng thương, sống thu mình, gửi gắm tâm tư bằng văn chương, rồi qua đời ở độ tuổi rực rỡ nhất của một đứa trẻ. “Chí phấn” và “văn” có hai điểm giống nhau, vừa là số phận bi thảm bị vùi dập, vừa là sức sống bất diệt. Đây cũng là hình ảnh đại diện cho bé gái.

    Dù đã không còn ở đây nhưng nhan sắc và tài năng của bà vẫn luôn được người đời ngưỡng mộ và thương tiếc “thác bay là thể thanh tao”. nguyễn du tổng kết con người trong xã hội phong kiến ​​từ số phận của tiêu thanh:

    “Gu Jin ghét thiên tai, bất công và ích kỷ”

    <3

    Bài thơ ngân vang nhiều âm tiết tạo nên cảm giác lắng đọng trong từng khổ thơ, như nỗi niềm lắng đọng khôn tả. “Cổ kim hận” là mối hận từ ngàn xưa đến nay. Ghét không chỉ nhỏ nhặt, nó là ngôn ngữ chung của vô số người tài năng và bất hạnh khác.

    “Tianwen” rất khó tìm. Những câu hỏi thông thường của người tài là khó hỏi đạo trời, hoặc đạo trời tự nó không có câu trả lời. Lời giận của tiểu thanh cũng là lời tâm sự của nhà thơ. Khi độc giả phân tích Tiến sĩ Daocheng, họ thấy rằng Ruan Dou đang khóc cho Daocheng, và anh ấy cũng đang khóc cho số phận bi thảm của chính mình.

    Tôi xót xa cho những gương mặt xinh đẹp bị cách ly khỏi thế giới, họ hiểu rất rõ giá trị của bản thân nhưng lại bất lực trước những chông gai trên đường đời. Những câu thơ phản ánh rõ nét cho người đọc thấy sự khắc nghiệt của xã hội đối với tài năng và khát vọng hạnh phúc. Như câu thơ đau đớn mà nguyễn du đã từng viết trong truyện kiều

    “Thảo nào trời trong xanh, thói quen hồng hào khiến người ghen tị”

    (Truyện Kiều-Nguyễn Du)

    Câu thơ cũng là tâm sự của nhà thơ. Nguyễn Du cảm thấy mình và tiểu thư cùng hội cùng thuyền. Khóc cho tiểu thanh cũng là khóc cho số phận của mình, khóc cho số phận bi đát của tài năng. Kết bài thơ là sự suy ngẫm về thời cuộc và câu hỏi về nhân tài:

    “Ba trăm tuổi vô tình, người nóng như Tinh Hà”

    (Không biết ba trăm năm nữa người ta có khóc không?)

    “Ba điểm” là danh từ số nhiều, chỉ khoảng thời gian dài. Trái ngược với “ba trăm”, “Ha-man” là một từ số ít. Sự kết hợp giữa hai câu là một câu hỏi tu từ thể hiện nỗi niềm ngậm ngùi khi hỏi về tương lai. Ba trăm năm rồi, những vần thơ của cô vẫn khiến người đời tiếc thương.

    Anh vẫn có thể khóc vì những bài thơ của cô từ tận đáy lòng. tiểu thanh cũng để anh làm bạn tâm giao và giải tỏa mối hận bằng những giọt nước mắt thấu hiểu. Ba trăm năm sau có ai khóc câu thơ của đời mình như khóc tiểu thanh hôm nay? Những câu hỏi của Nguyễn Du đi sâu vào lòng người đọc, khiến họ cảm thấy cô đơn trước dòng đời hối hả.

    Vị thư sinh tài hoa “một mắt nhìn thấu sáu cõi, một lòng thấu ngàn đời” luôn phải đối mặt với nỗi cô đơn suốt cuộc đời. Anh luôn khao khát tìm thấy người bạn tâm giao của mình trong cuộc sống luôn thay đổi. Cũng như nhạc sĩ vũ thanh an, cũng từng có cảm giác cô đơn như vậy, thể hiện hết mức sự xa lánh xã hội và con người.

    “Nghìn người quen, chết mấy người thân cho đi”

    Tác giả đã sử dụng thành công thể thơ của Bát tự thất tử và kết hợp việc sử dụng các chữ Hán giản thể và trang trọng. Phân tích chuyên khảo cho thấy, đoạn thơ này thể hiện rõ tình cảm, suy nghĩ của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn trong xã hội phong kiến.

    Không chỉ là số phận của cô tiểu thư, chúng ta còn có thể bắt gặp tình cảm ấy trong các tác phẩm khác của Nguyễn Du. Còn có những nàng kiều, nàng tiên, nàng cẩm…, điểm chung của họ là đều là những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng đều rơi vào hoàn cảnh ngược đời. Nguyễn Du không ca ngợi tài năng của họ mà cảm thông sâu sắc với những số phận bất hạnh đó. Điều này cũng cho thấy một khía cạnh quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du, đó là lòng nhân ái đối với những giá trị tinh thần. chà đạp..

    Truyện thanh đặc sắc để lại cho người đọc cảm giác đáng thương về số phận của một cô thiếu nữ xinh đẹp, tài năng nhưng bất hạnh. Đồng thời, Nguyễn Du cũng lên án xã hội phong kiến ​​tàn ác chà đạp nhân tài và niềm cảm thương sâu sắc của Nguyễn Du đối với số phận của những bậc hiền tài. Tiếng nói chân thành ấy vẫn còn vang vọng trong tâm trí mỗi người, trước trò đùa nghịch của đứa trẻ đã lật tẩy, nỗi xót xa bất lực của người đàn ông. Cho đến ngày nay, tác phẩm của Nguyễn Du đã vượt qua quy luật suy đồi của thời đại và vẫn làm rung động lòng người

    “Thơ ai vang vọng trời đất, tiếng nước vọng ngàn năm, nhớ Nguyễn Du, thơ như lời ru năm tháng của mẹ”

    (Kính gửi anh nguyễn du – to huu)

    Phân tích thơ đơn tiểu thanh ký – Ví dụ 12

    Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du được biết đến như một cây đại thụ của nền văn học Việt Nam. Ông là nhà thơ giỏi miêu tả cuộc đời và số phận của những con người “tài hoa và bất hạnh”, đặc biệt là người phụ nữ như: Thuý kiều trong truyện, ca nhi trong Long thanh cảm giả ca, tiểu thư trong chuyên khảo,.. .Tác phẩm thơ ca của ông được ví như một kim tự tháp vĩ đại sừng sững giữa sa mạc rộng lớn khô cằn. Những bí ẩn và điều kỳ diệu của công trình vĩ đại này vẫn chưa được khám phá.

    Bài thơ “Shan Tie Qing Ji” là một bài thơ chữ Hán nổi tiếng, được đưa vào tuyển tập thơ, thể hiện tấm lòng xót thương, đồng cảm của nhà thơ đối với người phụ nữ tài hoa và nhiều mộng tưởng này.

    Tiểu Thanh—một cô gái tài năng, mới 16 tuổi nhưng đã trải qua những thăng trầm của cuộc đời. Khi cô ấy còn trẻ, cuối cùng cô ấy đã được chôn cất trong mộ. Những tinh hoa dân tộc để lại cho đời cũng tiêu tan vì thói ghen tuông ích kỉ và tàn nhẫn của người vợ cả. Cảnh quay đau đớn của cuộc đời cô:

    Hồ Tây hoa nở uyển chuyển, có tiếng ca muôn thuở.

    Vườn hoa bên Hồ Tây từng là danh lam thắng cảnh ở Trung Quốc. “Vườn” và “thư viện” là hai khái niệm đối lập nhau, và chữ “Tân” dường như muốn ám chỉ vẻ đẹp của Hồ Tây đã biến mất và trở thành một đống đổ nát. Ngọn núi Cuoshan bên cạnh Tây Hồ – nơi năm xưa nàng bị giam cầm, đẹp là thế, nhưng giờ đây đã trở nên vắng lặng và lạnh lẽo. Tất cả những gì còn lại là ngôi mộ của trinh nữ Tiểu Thanh và một mảnh giấy “Thư nhất độc thư” – cuốn sách duy nhất mà Tiểu Thanh để lại – Tiểu Thanh ký.

    Đoạn văn là lời than thở của tác giả về sự “hay đổi thay” của cuộc đời và là tiếng kêu của một tấm lòng nhân đạo rộng lớn: vạn vật phải thay đổi theo thời gian, và tiếng nói yếu ớt dần bị dòng thời gian vùi lấp trong quên lãng.” Một điếu thuốc” – Thông qua “Một lá thư” nói lên nỗi cô đơn, lẻ loi mà một mình Nguyễn Du vượt thời gian và không gian trở về quá khứ để than khóc cho số phận của mình.

    Tinh thần hữu thần của trẻ em không thể so sánh được trong văn học.

    “Phan” và “Ôn” là những hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho sắc đẹp và tài năng của người con gái. Nguyễn Du mượn hình ảnh của hai sự vật này để nói lên lòng ghen ghét, đố kị của kẻ sĩ và kẻ thường dân. Nhớ lại bi kịch của cuộc đời cô – một cuộc đời cô đơn, lẻ loi. Nhà thơ thổi hồn mình vào thỏi son để bày tỏ sự cảm thông, tiếc nuối cho những số phận bất hạnh, và thỏi son của “thần thánh” chắc hẳn đang tiếc nuối những điều sau khi chết.

    Giống như đóa hoa đã tàn mà hương hoa còn đó, còn đâu đó hương trầm trong hư không, người ta sẽ luôn cảm thương cho số phận của người con gái. Còn “văn” – chỉ là một vật vô tri, vô giác, không có số phận, lại còn bị thiêu đốt bởi sự mong manh, phù du của nó – “bã” nên nó như có linh hồn, cố chống lại đòn roi của số phận.

    Mặc dù bị thiêu rụi nhưng những gì còn sót lại cảm thấy bị bỏ lại. Ông bày tỏ sự thương cảm cho số phận của những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng không được xã hội xưa coi trọng, đồng thời bày tỏ nỗi uất ức ngàn năm dành cho họ.

    Gu Jin ghét thiên tai và thảm họa nhân tạo, và số phận của anh ấy thật bất công.

    “Thù hận kim cổ” là nỗi oan mà các bậc nho sĩ tài hoa qua muôn đời vẫn phải chịu đựng, phải kêu trời chứ biết làm sao bây giờ? Nó không xa đâu. “- Kiều Xuyên, luôn có câu hỏi nhưng không có câu trả lời, càng không nói đến sự bất công của một người đàn ông tài năng như Zhang Cheng, bạn có hỏi trời không? Nào, bạn không hỏi bạn đang ở đâu.

    Câu thơ như tiếng kêu đau kinh thiên động địa. Anh cho rằng mình cùng hội với tiểu thanh – những người tài hoa bạc mệnh và dính vào một trường hợp “may mắn” kỳ lạ. Cuộc đời Tiểu Thanh đã soi sáng lòng Nguyễn Du, ông thấu hiểu nỗi khó khăn của khách văn chương đa tài. “Thu cô đơn” – Nguyễn Du ý thức sâu sắc rằng trong biển đời sóng gió, không thể nào tránh khỏi nỗi đau nặng nề của những người giúp đỡ lẫn nhau. Tự đáy lòng đau xót, không khỏi thở dài sầu nhân thế

    <3

    Nguyễn Du là tài tử giữa đời, Tiểu Thanh là khách xinh đẹp. Dù ba trăm năm đã trôi qua nhưng anh vẫn có chút gì đó giống với cô gái đó. “Chàng khó sĩ bạc mặt”, tiểu thanh để lại “bức thư đầu”, mảnh giấy rách mà 300 năm sau Nguyễn Du vẫn xót thương cho số phận nàng. Nguyễn Du dùng câu hỏi tu từ, ý muốn biết 300 năm nữa có ai nhớ đến mình như nhớ đến nàng không.

    Ông trăn trở, mong người ở thế giới bên kia cũng thông cảm cho mình. Hai câu trên là nỗi niềm cô đơn của ông trong những ngày đi sứ nơi “xứ lạ”. Số phận éo le: “Có ai trên đời khóc?” như thế? “. Ngày 1-11-1965, nhân dịp sinh nhật Nguyễn Du, nhà thơ Du Hữu nhân dịp về quê, viết một dòng thơ:

    “Nửa đêm quận Nhất Huyền nhớ bà nội thương thân…”

    (Kính gửi anh nguyễn du – to huu)

    “Đọc tiểu thanh ký” là bài thơ thất ngôn bát cú. Nó phản ánh rõ nét một xã hội đầy bất công và tàn ác. Đồng thời, Nguyễn Du cũng khéo léo mượn hình ảnh người thiếu nữ để bày tỏ niềm xúc động sâu sắc về số phận bất hạnh của những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn trong xã hội phong kiến. Tất cả những điều này nói lên một khía cạnh quan trọng trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du: ân hận về việc chà đạp những giá trị tinh thần.

    Phân tích thơ đơn tiểu thanh ký – Ví dụ 13

    “Tiếng người chấn động trời đất, như nước vang vọng tiếng Vạn Thu”

    Trăm năm đã trôi qua nhưng thơ của Nguyễn Du có lẽ còn mãi trong lòng người đọc. Bởi câu thơ của nhà thơ lớn này “đầu bút như ứa máu, nước mắt chảy ướt cả trang giấy”. Thơ ông diễn tả sâu sắc nỗi đau của con người, đặc biệt là người phụ nữ, từ xưa đến nay – “đời hoa hậu” hay kẻ tài hoa bạc mệnh. Và “Dao Qing Ji” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà thơ lớn Ruan Du, người thương tiếc người nghèo. Chính cái trí sáng suốt đó đã làm cho các tác phẩm của ông trở nên bất hủ, và chính bởi ông có cái nhìn sâu sắc về lục giới như nhà văn, nhà triết học người Pháp Didorot đã nói: “Nghệ thuật là nơi cái hư được phát hiện. Cái bình thường trong cái bình thường là trong bình thường.” phi thường”.

    Trong bộn bề lo toan của cuộc sống thường ngày, ít ai thử sống chậm lại để cảm nhận điều phi thường giữa bao điều bình thường. “Đi tìm cái phi thường trong cái bình thường” là một cách khám phá, một cách quan sát mọi thứ một cách sâu sắc. Nếu chúng ta chỉ hiểu những điều hào nhoáng, hời hợt trên bề mặt, chúng ta sẽ không bao giờ có thể nhận ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong những chất phù du đó. Nhưng “chưa từng là người bình thường thì phải biết là người bình thường”. Đây là một đánh giá toàn diện giúp đơn giản hóa các vấn đề và đòi hỏi một con mắt rất tinh tường để dễ dàng nhận ra vẻ đẹp đơn giản và quen thuộc của đối tượng được đề xuất. Đánh giá của Dodirot đưa ra một luận điểm hoàn toàn xác đáng: “Người nghệ sĩ phải có cái nhìn linh hoạt, xuyên suốt, đa diện về một vấn đề, một đối tượng văn học”.

    Chủ nhân của Mông Liên Dương nói: “Nguyễn Du có con mắt thấu lục giới, tư tưởng ngàn đời.” Quả thật, trong lòng Nguyễn Du luôn nghĩ cho người khác, lấy đó làm vui. , chịu đựng nỗi đau trên đời, phải khóc, phải cười, phải lo lắng cho người khác. Thơ ông trở nên nặng nề, mang đậm chất “nhân văn, thái độ”. Thơ như tiếng ba âm, là sự đồng cảm với đồng bào, đặc biệt là tiểu thanh trong tác phẩm “độc tiểu thanh ký” /p>

    Trong xã hội phong kiến ​​đương thời, có biết bao người phụ nữ phải sống trong sự hành hạ thường xuyên về thể xác lẫn tinh thần, nhưng những gì Nguyễn Du viết không phải về những người phụ nữ ấy mà là về tài năng của chính họ. “Đi tìm điều phi thường trong cái bình thường” đã giúp anh vượt qua rào cản về thời gian (hơn 300 năm sau) và không gian địa lý khó khăn (Trung Quốc) để gặp được nàng tiểu thanh – người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì nàng mà bị người đời ghen ghét. Cô vợ gốc của anh sống ở vùng núi Tây Hồ.

    Nàng đau buồn qua đời để lại một tập thơ. Nhưng đối tác ban đầu vẫn ghen tuông và đốt tập thơ, và bây giờ chỉ còn một số bài thơ được gọi là “Tàn dư”.

    Khổ thơ đầu là lời than thở cho cái đẹp bị vùi dập, vùi dập:

    “Hồ Tây trong thành phố”

    Cảm xúc trước sự đổi đời là một loại cảm xúc nhân văn khá phổ biến trong thơ ca trung đại. Nguyễn Trãi đến thăm núi Dục Thúy mà xúc động trước cảnh “cổ thụ rêu phong”. Cô huyện thanh quan bẽ bàng trước cảnh “dấu xưa xe ngựa” nay chỉ còn là “vườn hồn”, “nền lâu đài cổ kính” Gợi nhớ một triều đại huy hoàng đã qua. cuộc đời, trong khi niềm tiếc thương của nhà thơ lại dồn nén trước sự tàn phá tàn bạo của cái đẹp.Hình ảnh thơ đối lập: cảnh đẹp >> gò hoang gợi nghịch cảnh.Từ “tan” trong nguyên chữ Hán “tan Chengkh” hàm ý to lớn Không còn dấu vết của sự thay đổi Dường như phải tinh mắt lắm mới nhận ra tàn tích của gò cũ xưa kia là một nơi rất đẹp Thời gian tàn phá tất cả cảnh vật và làm mờ đi tất cả Trong dòng hoài niệm, tác giả chợt nhận ra, trở về với thực tại và châm biếm nghịch cảnh, nghịch cảnh giữa cổ đại và hiện đại, vẻ đẹp huy hoàng/hoang vu tịch mịch.

    Nhắc đến Hồ Tây, tôi nghĩ đến người phụ nữ tài hoa và kém may mắn ấy. Nguyễn Du vô cùng ân hận và xót xa cho số phận của Tiểu Thanh quá nghiệt ngã và cái chết của nàng là một minh chứng xót xa cho cảnh hồng nhan, cảnh hối hận của nàng khi chết cùng mỹ nhân. Nếu trong truyện Kiều, Thôi Kiều biết về số phận của Đan Điền qua lời vua, thì trong truyện Đạo Thành, Nguyễn Du biết được nỗi oan của Đạo Thành qua “tờ giấy vụn” trước cửa sổ: điếu thuốc đắt nhất chỉ có một thư”

    Cuộc gặp gỡ giữa Cuiqiao và Dantian cũng có sự chứng kiến ​​​​của các chị em ở nước ngoài, và người tieu thanh mà Ruan Du đến thăm cô chỉ qua một cuốn sách bị đốt cháy. Hai chữ “độc” và “nhất” trong Hán tự cũng có nghĩa là trái tim bị tổn thương tìm đến tâm hồn bị tổn thương, một mình anh đối mặt với cuộc đời của một tiểu tử. Đây là sự cộng hưởng của “hàn lâm và mỹ miều”, “quá khứ và hiện tại”.

    Đối với một cô gái có số phận nghiệt ngã như vậy, ông đã dùng ngòi bút nhân đạo để khám phá vẻ đẹp, tài năng và tâm hồn ẩn sâu trong trái tim cô. Cuộc sống trong quán bar nhỏ là một trường hợp điển hình của hai sự bất công: hồng nhan bạc mệnh và số phận trái ngược nhau. Một mỹ nhân như nàng chẳng may chết yểu. Cô ấy có năng khiếu làm thơ, nhưng lại bị nghiền nát. Di sản của Tiểu Thanh là di sản đáng ghét:

    “Tinh thần hữu thần của tôn giáo sau văn học”.

    Nguyễn Du nhắc đến cuộc đời tiểu thanh bằng những ẩn dụ tượng trưng quen thuộc, son môi là biểu tượng cho cái đẹp và văn chương là ẩn dụ cho tài năng của tiểu thanh. Nhân hai vật vô tri vô giác. Cách điệu là có “thần” và có “hồn”, phải chăng nước mắt và máu của tiểu thanh đã tạo nên “thần”, tạo nên “số phận” của văn chương, hay chính sự đồng cảm kỳ lạ của “đại thi hào dân tộc” (hoài thanh) đã tạo nên cái “”Thượng đế”, “linh hồn”” Để nó làm hận thù đeo đẳng mãi? -trang điểm” và “văn chương” như sự đồng cảm của con người Thế mới thấu hiểu: trang điểm như thần, chết người ta còn than khóc, văn chương có duyên gì làm người bận rộn? xinh đẹp, tài giỏi, ai nhìn cũng cho rằng chị là “”phi thường”, tài sắc vẹn toàn theo quan niệm phong kiến, nhưng cũng như bao người phụ nữ cùng thời, họ cũng chung một nỗi đau, rất “bình thường” về thể chất và tinh thần.

    Nhưng suy cho cùng cũng là do cảm hứng bất diệt của Nguyễn Du trước cái đẹp và cái tài. Ta thấy Nguyễn Du Thường đồng cảm với “nghiệp trang điểm nhân quả” nhưng đồng thời cũng khen một trang nhan sắc diễm lệ: “Đứa trẻ lưng cành trúc/ Vẻ đẹp xuân sắc sáu thành ” nữ ca sĩ đất la thanh. Trong “Độc tiểu thanh”, nhan sắc tuy đã tàn nhưng “hận còn chôn vùi”, đời tiểu thanh ngắn ngủi, số phận văn chương “thiêu thân còn vương”. Những giọt nước mắt tủi phận của cô thanh niên nghèo kết tinh thành sự ngưỡng mộ, ngợi ca cái đẹp. chiều sâu nhân đạo của nó.

    “Trăm năm trên đời chỉ hận được một chữ”

    Nguyễn Du cho rằng hận thù từ thuở hàn vi đến hận thù muôn đời, hận thù này tiếp diễn không bao giờ dứt. .Suy nghĩ này của tiểu thanh, có lẽ nguyễn du còn gắn liền với nhiều kiếp người như người đã khuất, Đỗ phủ – một bậc tài hoa mà ông hằng ngưỡng mộ – và nhiều kẻ lưu lạc khác. Bế tắc ngàn đời là “khó hỏi đạo trời” (thiên vấn). Đoạn thơ này giúp ta hình dung rõ nét kiếp nạn của thời đại phong kiến, kìm nén nỗi bất mãn của nhà thơ với thời thế, thể hiện sự bế tắc của Nguyễn Du. Vì vậy, oán hận quá lớn hỏi trời: “Thiên Văn”. Bài thơ như những lời than thở, oán trách Thượng đế vì cuộc đời thật nghiệt ngã và ngược lại đẩy biết bao người giàu có vào cuộc sống cơ cực, lầm than. Nhưng dù hỏi Chúa cũng không mong câu trả lời, nên càng thêm ghét. Nỗi đau của tiểu thanh mang tính chất rất riêng, nhưng Nguyễn Du tinh tế nhận thấy rằng nỗi đau ấy rất bình thường, rất lớn – đó là nỗi đau của cả một lớp người, cả một thế hệ:

    “Gu Jin ghét tự nhiên tiến thoái lưỡng nan”

    Bên cạnh Ghét là “Sự trừng phạt của Số phận”. Lại là một nghịch cảnh đau lòng khác, những vị khách giàu có phải khổ sở, phải gánh những bản án bất công đến lạ lùng cho cách cư xử của mình. Trong quý thứ sáu, chủ và khách trở thành một:

    “Thật không may, sự bất công tự giải quyết”

    Những câu chuyển chữ lu thành chữ kê chưa làm nổi bật sự nhập thân của chủ thể và tân ngữ. Nguyễn Du tự nhận mình là người trong hội tiểu thanh. Đó là một cảm xúc chân thành. Âm điệu của Nguyễn Du còn thể hiện tư thế rất phong nhã, vĩ đại và tinh thần nhân đạo rất sâu sắc của ông. Nhà thơ đã nhiều lần nói điều này. Anh từng hóa thân thành kiều nữ và khóc vì vai diễn, anh từng khẳng định một cách tỉnh táo rằng “Hồi trẻ tôi cứ tưởng mình có tài”. Cách người ta nghĩ về tôi, trong những bài thơ cổ điển Việt Nam trước đây của ông, có lẽ ít người thể hiện sâu sắc như vậy. Nguyễn Du tự đặt mình làm “ban thuyền” với tiểu thanh, phơi mình trước thiên hạ. Nỗi niềm chung của những người chịu “bất công” được bộc lộ một cách bộc trực, mạnh mẽ bằng tiếng nói riêng của họ để lại cho người đọc những dòng cảm xúc thấm thía. Tâm sự ấy không chỉ của riêng Nguyễn Du mà còn là niềm xúc động của nhà thơ lúc bấy giờ. Thế là từ giọt nước mắt tiếc thương, nước mắt nhân thế, Nguyễn Du trở nên tủi thân.

    Hai câu cuối bài thơ là lời Nguyễn Du mong muốn cho muôn đời sau nghe:

    “Ba trăm tuổi vô tình, người nóng như Tinh Hà”

    Nguyễn Du, đại thi hào dân tộc, không hỏi chuyện xưa, chuyện nay, chỉ hỏi chuyện tương lai. Ba trăm năm sau, có một Nguyễn Du ôm “mảnh giấy vụn” “nức nở bên sông”. Và Ruan Du không quan tâm ai đã khóc hay ai đã bị tổn thương bởi số phận của Fusheng. “I don’t know” – Tôi không biết. Nỗi tủi thân đọng lại thành một câu hỏi lơ lửng giữa không trung không ai giải đáp được, anh tự dằn vặt bản thân đến tột cùng, anh muốn tìm kiếm sự thấu hiểu trong tương lai, bởi khi con người cô đơn và hoang mang, rất dễ trở nên yếu đuối và vô vọng. . .Một số nhà thơ nhớ tương lai: Ở thế giới bên kia, có người “khóc già” vì thời đại Nguyễn Du đau khổ, khao khát được giải thoát nhưng vẫn vướng vào rắc rối. Bế tắc nhưng vẫn không từ bỏ hy vọng. Vì vậy, cảm giác được truyền tải đến tương lai không phải là tuyệt vọng, mà là hy vọng được giải tỏa.

    Tự thương hại bản thân là một đặc điểm mới của tinh thần con người vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 12—thời kỳ mà con người không nhận thức được bản thân, tài năng và nỗi đau của mình. .Tự thương là ý thức tủi thân, thấm đẫm nước mắt để chống lại sự chi phối của quan niệm “vô ngã” và “vô ngã”.

    Bài thơ đầu khóc thương ai, thương ai, đến đoạn cuối khóc thương mình, thương mình. Khóc cho người và thương cho người là sự bao la của trái tim con người. Khóc mình, thương mình, là chiều sâu tư tưởng của con người. duy nhất tiểu thanh ký hai điều này.

    Chỉ tám câu thơ thôi cũng đủ khiến người đọc cảm nhận được tâm hồn yêu đời, yêu người của đại thi hào Nguyễn Du. Chẳng cần 300 năm sau, hậu thế vẫn mãi nhớ đến ông, nhớ đến những vần thơ giàu cảm xúc như ánh sáng chói lọi nổi bật trong kho tàng thơ ca trung đại và văn học Việt Nam:

    “Ông già chúng tôi, xin ông so dây lần nữa.” (Ông già nguyễn du – tổ huý thân mến)

    Nghệ thuật chân chính không nhất thiết là dùng từ hoa mỹ, đề tài mới, mà “nghệ thuật là tìm cái phi thường trong cái bình thường, và khám phá cái bình thường trong cái bình thường”. Để làm được điều này, nhà thơ phải có tài năng, có vốn văn hóa rộng lớn, có lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp và quan trọng nhất là phải có cái tâm trong sáng, bởi “thơ là tiếng nói của trái tim” (điệp viết tiếp).

    Thông qua tác phẩm văn học, nhà thơ nhìn cuộc sống một cách cao cả, nhân văn và chính vì hiểu rõ những điều “bình thường” và “phi thường” nên nhà thơ đã có những hiểu biết sâu sắc về cuộc đời. Từ một kiếp người nhỏ bé đầy bất bình, nhà thơ bày tỏ niềm thương cảm, xót xa và tiếc nuối cho cuộc đời đổ vỡ:

    “Trải qua những gì tôi thấy là một trải nghiệm đau lòng.”

    Chính năng khiếu bền bỉ này đã khiến Nguyễn Du trở thành một nhà thơ lớn của văn học viết. Điều đó cho thấy quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ khó khăn như thế nào. Nhờ những nhà văn, nhà thơ như vậy mà người ta có thể hiểu được mọi điều trong cuộc sống từ những điều cơ bản nhất, toàn diện nhất đến những điều chi tiết và cao siêu nhất. là kết quả của tình yêu. Tình yêu nhân loại, ước mơ cháy bỏng về một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái sẽ luôn thôi thúc các văn nhân, nhà văn dốc cạn trí óc, xương máu vì nhân loại.” Nguyễn Du đã từng bày tỏ sự thương cảm, khóc thương cho cô gái lạ kiều thanh, cho A. hạng người “hên xui gặp may” đều khóc, chính vì vậy mà Nguyễn Du đã để lại dấu ấn trong lòng người đọc, để rồi nở rộ vẻ đẹp nhân văn.

    Phân tích thơ độc tiểu thanh ký – Văn mẫu 14

    Nguyễn Du dường như có sự đồng cảm sâu sắc với số phận của những người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. Chính vì vậy, những người phụ nữ tài hoa và bất hạnh đều đặc biệt quan tâm đến việc đời mình được kể trong trang thơ. Nói đến đây, chúng ta thường liên tưởng đến câu chuyện về một nàng kiều xinh đẹp nhưng bất hạnh. Tuy nhiên, nhà thơ Nguyễn Du cũng bày tỏ sự đồng cảm với một người con gái bạc mệnh khác là Thu Thanh trong tác phẩm “Đào thu xanh”. Đồng thời cũng thấy được tình cảm chất chứa trong lòng Nguyễn Du.

    Bài thơ này được viết theo thể thất ngôn, hãy phân tích theo trình tự kết cấu bài thơ để xem Nguyễn Du cảm nhận số phận của người con gái bị chết oan như thế nào. Phong cảnh miền Tây. Đồng thời ta cũng hiểu được tình cảm mà nhà thơ muốn gửi gắm đến người đọc.

    Trước hết, hai câu đầu, cảnh Hồ Tây ngày thường không đẹp, lại mang nỗi oan khuất:

    “Taihe hoa nhẹ, nhiều tiền nhất chỉ một chữ”

    (Hồ Tây núi sông thành gò, nức nở bên trang giấy vụn)

    Cảnh bên kia hồ xưa vốn là cảnh đẹp nhưng không phải, nay thành gò đống. Cái “hoang dã” ấy dường như đã diễn tả hết cái hoang vu không một bóng người, không tiếng động nơi đây. Cảnh tượng khắc sâu vào tâm trí người đọc sự ảm đạm, đau khổ của cảnh vật. Không biết cảnh có còn đẹp không, nhưng cái chết của người con gái xinh đẹp ấy khiến nhà thơ cảm thấy nó không còn đẹp nữa, hay nói cách khác, vẻ đẹp ngày xưa không còn đẹp như xưa. . Phải chăng cái chết oan uổng của một người con gái khác đã khiến nó không còn đẹp như xưa, và chỉ có thi sĩ mới cảm nhận được? Cho dù bạn hiểu nó như thế nào, thực sự có một đám mây lớn ở đây. Nàng Tiểu Thanh khi còn sống đã ca hát, vẽ tranh làm nên vẻ đẹp của Hồ Tây, khi nàng bị chính người vợ gốc của chồng giết chết, cái chết đầy uất hận làm cho cảnh sắc Hồ Tây không còn như xưa. Giống như trước. Mặt giấy hiện lên hình ảnh nhân hóa, mang cảm xúc muốn khóc. Phải chăng tờ giấy rách vẫn biết khóc, hay tâm trạng của cô gái lạc loài. Cô không hài lòng với kết cục của số phận mình nên đã khóc. Nhưng cũng có cảm giác bài báo là hồi ức về niềm thương cảm của nhà thơ đối với người phụ nữ đã khuất. Tóm lại, qua hai câu đầu ta thấy được một cảnh bày tỏ sự ngậm ngùi, phẫn uất.

    Hai câu tiếp theo, nhà thơ xen vào nói về sự nghiệp văn chương của cô gái hồng nhan. Ở đây nhà thơ dường như đã tìm được người đồng điệu với tâm hồn văn chương của mình:

    “Tinh thần chủ nghĩa có chết thì văn học mới trường tồn.”

    (Son môi vùi lấp hồn còn hận, văn chương mệnh không đốt)

    Hai câu đầu làm nền, hai câu sau là cái chết làm nên vẻ đẹp của Hồ Tây, chính cái gò làm cho người ấy dù vùi trong ngàn lớp đất cũng vẫn căm hận. đến tận xương. Hình ảnh “trang điểm” chỉ người con gái nhỏ xinh. Ở đây, nhà thơ không cần nói thêm về vẻ đẹp của người con gái này, nhưng qua hình ảnh đó, ta có thể hiểu được ẩn ý của nhà thơ khi thể hiện người con gái xinh đẹp đó. Dù đã bị chôn vùi dưới lòng đất nhưng linh hồn của cô vẫn ghê tởm nó. Văn học của cô dường như vẫn thống trị thế giới. Một cô gái khác có số phận, nhưng văn học khác có số phận hay không. Số phận của văn học phụ thuộc vào số phận của những người sáng tạo ra nó. Vậy là người sáng tạo ra nó đã ra đi nhưng thứ văn chương cháy bỏng vẫn còn lưu lại trong nhân gian. Có thể thấy số phận của văn chương dài hơn cuộc đời của người phụ nữ.

    Là bởi vì tài năng của nàng, bởi vì dung mạo xinh đẹp của nàng, chỉ là số phận của nàng, nàng chết đi, để lại oán hận. Đây là oán hận sâu sắc:

    “Gu Jin ghét thiên nhiên, và anh ta phạm tội bất công.”

    <3

    Mối thù ấy biết hỏi Chúa tại sao, nhưng Chúa không trả lời được vì cái án phong phú ấy, mà chính thân chủ đã mang đến. Ở đây, Nguyễn Du bày tỏ quan điểm của mình về hai nhân vật tài và mệnh. Người con gái càng xinh đẹp càng tài giỏi, trong xã hội cũ ấy chỉ có thể là một số phận bi thảm mà thôi:

    “Có tài, dựa vào tài, một nhân vật cũng xứng”

    Ruan Du thấy rằng cô ấy cùng hội cùng thuyền với anh ấy về sự sang trọng và sự nghiệp văn chương. Tuy nhiên, anh ta phải chịu đựng những bất bình kỳ lạ của chế độ gia trưởng thời trung cổ.

    Hai câu cuối bài thơ bộc lộ cảm xúc của Nguyễn Du với chính mình: “Ba năm sau không biết,”

    Dải Ngân hà có tệ đến vậy không? “

    (Hơn ba trăm năm rồi ai lại khóc thế này?)

    Nhà thơ tiếc thương cô gái, không biết rằng khi nhà thơ mất, không ai khóc thương mình như khóc thương tiếng nói nhỏ của cô. Anh cũng có tư cách tao nhã như cô, có khiếu thẩm văn như cô, khi anh mất đi, không biết có ai đồng điệu với tâm hồn anh mà thương tiếc cho anh không. Câu hỏi ấy kết thúc bài thơ, để lại câu trả lời cho người đời sau.

    Như vậy, qua bài thơ này ta thấy được số phận của người con gái bạc mệnh. Đồng thời ta cũng thấy được tình cảm của nhà thơ sau này là Nguyễn Du. Hóa ra, cho đến ngày nay, người ta vẫn ca ngợi tài năng của ông qua những câu chuyện ở hải ngoại.

    Xem thêm: Bài thơ Tiếng gà trưa Tác giả Xuân Quỳnh

    Xem thêm:  Tập làm văn lớp 5: Tả quả dưa hấu mà em yêu thích Dàn ý & 10 bài văn Tả quả dưa hấu lớp 5

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *