Chi bộ cơ sở Đảng là gì? Quy định chung [2022]

Chi bộ cơ sở Đảng là gì? Quy định chung [2022]

Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam – là một tập thể thống nhất về chính trị, tư tưởng dựa trên chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, được tổ chức chặt chẽ và khoa học

dịch vụ đăng ký hộ kinh doanh tại huyện Gia Lâm

1. Khái niệm và vai trò của tổ chức cơ sở đảng

Điều 21 của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua nêu rõ:

– Các tổ chức cơ sở đảng (chi bộ, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của đảng, là hạt nhân chính trị của cơ sở.

– Ở những xã, huyện, thị trấn có từ 3 đảng viên chính thức trở lên, ở các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp thành lập tổ chức cơ sở đảng (cấp huyện). Doanh nghiệp, quân đội, công an và các đơn vị có từ 3 đảng viên trở lên chính thức thì thành lập tổ chức cơ sở đảng (tổ chức cơ sở của đảng bộ hoặc chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở). .. “…

– “Tổ chức cơ sở đảng có dưới 30 đảng viên thì thành lập chi bộ, tổ chức đảng. Tổ chức cơ sở có từ 30 đảng viên trở lên thành lập đảng bộ cơ sở, thành lập chi bộ. các chi bộ trực thuộc đảng ủy ”

Điều 10, Hiến pháp Đảng Cộng sản Việt Nam quy định rõ: “Tổ chức cơ sở đảng được thành lập ở các đơn vị hành chính, sự nghiệp, kinh tế, đơn vị công tác, chịu sự lãnh đạo của cấp ủy quận, huyện. Và thị trấn, xã, thành phố trực thuộc tỉnh … ”. Hiến pháp cũng quy định riêng tổ chức đảng của Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam.

Do đó, tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản Việt Nam bao gồm chi đoàn cơ sở và đảng bộ cơ sở. Có hai loại đảng bộ cơ sở: đảng bộ cơ sở có chi bộ trực thuộc, đảng bộ cơ sở có trụ sở đảng và các chi bộ trực thuộc. Các tổ chức cơ sở của đảng có cấp ủy cấp trên trực tiếp. Ví dụ: huyện ủy là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng xã, thị trấn trong huyện; cấp trên trực tiếp của huyện ủy, tổ chức cơ sở đảng cấp huyện …

Ngoài ra, được sự chuẩn y của cấp ủy cấp dưới trực tiếp, một số tổ chức cơ sở đảng còn có chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở. Có các chi bộ trực thuộc trong đảng bộ bộ phận.

Điều 21 của Hiến pháp Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua quy định:

– Các tổ chức cơ sở đảng (chi bộ, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của đảng, là hạt nhân chính trị của cơ sở.

– Ở xã, huyện, thị trấn có từ 3 đảng viên chính thức trở lên và ở các cơ quan chính quyền, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp thì thành lập tổ chức đảng cơ sở (cấp huyện). Doanh nghiệp, quân đội, công an và các đơn vị có từ 3 đảng viên trở lên chính thức thì thành lập tổ chức đảng cơ sở (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở) .. . “…

– “Tổ chức cơ sở đảng có dưới 30 đảng viên thì thành lập chi bộ, tổ chức đảng. Tổ chức cơ sở có từ 30 đảng viên trở lên thành lập đảng bộ cơ sở, thành lập chi bộ. các chi bộ trực thuộc đảng ủy ”

Điều 10, Hiến pháp Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: “Tổ chức cơ sở của đảng được thành lập ở các đơn vị hành chính, sự nghiệp, kinh tế, đơn vị công tác và chịu sự lãnh đạo của huyện ủy, quận ủy. . Và các thị trấn, xã, thành phố thuộc tỉnh … ”. Hiến pháp cũng quy định riêng tổ chức đảng của Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam.

Do đó, tổ chức cơ sở của Đảng Cộng sản Việt Nam bao gồm chi đoàn cơ sở và đảng bộ cơ sở. Có hai loại đảng bộ cơ sở: đảng bộ cơ sở có chi bộ trực thuộc, đảng bộ cơ sở có trụ sở đảng và các chi bộ trực thuộc. Các tổ chức cơ sở của đảng có cấp ủy cấp trên trực tiếp. Ví dụ: huyện ủy là cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng xã, thị trấn trong huyện; cấp trên trực tiếp của huyện ủy, tổ chức cơ sở đảng cấp huyện …

Ngoài ra, được sự chuẩn y của cấp ủy cấp dưới trực tiếp, một số tổ chức cơ sở đảng còn có chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở. Có các chi bộ trực thuộc trong đảng bộ bộ phận.

Trong những trường hợp sau, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo cấp trên trực tiếp phê duyệt:

– Thành lập đảng bộ cơ sở ở những đơn vị cơ sở có dưới 30 đảng viên.

– Thành lập chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở với hơn 30 đảng viên.

-Một chi bộ được thành lập trực thuộc đảng ủy cơ sở

1.1 Vai trò của tổ chức cơ sở đảng

Với vai trò là nền tảng của đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò rất quan trọng đối với sức mạnh của đảng. Đây là tổ chức cấp cuối cùng trong hệ thống tổ chức bốn cấp của Đảng ta, là tổ chức cấp I, có phạm vi hoạt động rộng nhất, liên kết với các đơn vị cơ sở trong cả nước và tất cả các ban ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội. Mọi đảng viên, mọi công dân. Với tư cách là nòng cốt của chính trị ở cơ sở, Đảng Cộng sản Việt Nam là nơi thể hiện toàn diện, trực tiếp và cụ thể nhất mối quan hệ giữa đảng với nhân dân.

Xem thêm:  Dinh thự là gì? Khác gì so với biệt thự và biệt phủ?

Đây là nơi trực tiếp triển khai và lãnh đạo các cấp nhân dân thực hiện chính sách của đảng và pháp luật của nhà nước. Thực hiện chính sách đường lối của đảng và pháp luật của nhà nước. Đánh thức nguồn dân trí. Đồng thời qua đó cũng giúp kiểm nghiệm, bổ sung đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của đất nước. Đây còn là nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động quan trọng trong công tác xây dựng và phát triển đảng như công tác kết nạp, quản lý, giao nhiệm vụ, kiểm tra đánh giá, sàng lọc … đảng viên; đảng viên thường xuyên thực hiện các nguyên tắc tổ chức. và các hoạt động; Điểm khởi đầu để cung cấp cán bộ.

Tổ chức cơ sở của đảng còn là cầu nối giữa đảng với nhân dân, là mắt xích quan trọng để giữ vững mối quan hệ giữa đảng với nhân dân; là tổ chức gần dân nhất, trực tiếp lãnh đạo nhân dân, nắm bắt các đòi hỏi tư tưởng của quần chúng, và phản ánh họ với đảng. Dân tin Đảng, tin hay không là nhờ vai trò quan trọng, trực tiếp của đội ngũ cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và các đảng bộ cơ sở.

1.2 Nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng

Điều 23 của “Hiến pháp Đảng” quy định nhiệm vụ của các tổ chức cơ sở đảng như sau:

—— Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của quốc gia; xây dựng đường lối, nhiệm vụ chính trị cho các chi bộ, đảng bộ và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả.

– Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, tự phê bình và phê bình, giữ vững kỷ cương, đoàn kết thống nhất trong nội bộ; giáo dục cán bộ, đảng viên, rèn luyện, quản lý, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, hiệu lực chiến đấu, trình độ hiểu biết và năng lực công tác; công tác phát triển đảng viên.

– Lãnh đạo xây dựng chính quyền, tổ chức kinh tế, hành chính, phi thương mại, quốc phòng, an ninh và các tổ chức chính trị – xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và phát huy quyền tự chủ của nhân dân.

– Liên hệ mật thiết với nhân dân, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của dân tộc.

– Kiểm tra, giám sát việc thực hiện đảm bảo thực hiện đúng nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kiểm tra, giám sát việc tổ chức đảng và đảng viên tuân theo hiến pháp của Đảng.

Cấp ủy cơ sở có thể quyết định kết nạp và miễn nhiệm đảng viên khi được cấp trên ủy quyền.

2. Tổ chức cơ sở đảng

– Tổ chức đảng cấp cơ sở triệu tập đại hội, đại hội đảng viên cơ sở 05 năm một lần; có thể tổ chức sớm hơn hoặc muộn hơn, nhưng không quá một năm.

– Đại hội thảo luận các văn kiện của cấp trên; đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết của khoá trước; quyết định nhiệm vụ nhiệm kỳ tới; bầu cấp uỷ; bầu đại biểu đi dự đại hội đảng bộ cấp trên.

– Cấp ủy xét thấy cần thiết hoặc khi có trên 1/2 số tổ chức đảng trực thuộc của đảng bộ đề nghị và được cấp ủy cấp dưới trực tiếp đồng ý thì tổ chức đại hội đảng viên lâm thời hoặc đại hội đảng viên lâm thời.

Đại biểu dự đại hội lâm thời là đại biểu cấp ủy các cấp đã tham gia đại hội đảng bộ đầu nhiệm kỳ, sinh hoạt cấp ủy, đủ tư cách đại biểu. Tham dự đại hội lâm thời của chi bộ có đầy đủ các đồng chí trong đảng bộ.

– Các đảng bộ, chi bộ cơ sở họp thường kỳ, mỗi tháng một lần, trường hợp cần thiết thì họp đặc biệt.

– Đảng bộ cơ sở có trên chín ủy viên thì bầu ban thường vụ; bầu bí thư và phó bí thư trong số ủy viên ban thường vụ, chỉ bầu bí thư và phó bí thư trong số ít hơn chín ủy viên.

– Đảng ủy cơ sở họp định kỳ 2 lần / năm, trường hợp cần thiết thì họp đặc biệt. Các chi hội cơ sở họp thường kỳ mỗi tháng một lần; các cuộc họp đặc biệt được tổ chức khi cần thiết.

3. Quy chế cơ bản của Chi bộ Đảng

– Các chi bộ cơ sở do đảng viên công tác hoặc nơi cư trú, mỗi chi bộ có ít nhất 3 đảng viên chính thức. Chi bộ có đông đảng viên có thể chia thành nhiều đảng bộ, chi bộ bầu tổ trưởng, trường hợp cần thiết bầu tổ phó; tổ chức đảng hoạt động dưới sự lãnh đạo của cấp ủy.

– Lãnh đạo chi bộ thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị; giáo dục, quản lý, phân công đảng viên; thực hiện công tác vận động quần chúng và xây dựng đảng viên; kiểm tra, giám sát việc xử lý kỷ luật đảng viên; thu, đóng đảng phí. Chi bộ, chi bộ họp định kỳ mỗi tháng một lần.

– Đại hội chi bộ được chi bộ tổ chức 5 năm một lần, nếu không có chi ủy thì do bí thư chi bộ triệu tập. Được sự đồng ý của cấp ủy cơ sở, đại hội có thể được tổ chức trước hoặc hoãn, nhưng không quá sáu tháng.

– Đối với các nhóm có ít hơn chín thành viên chính thức, hãy bầu thư ký của họ và, nếu cần, một phó thư ký. Chi bộ có trên 9 đảng viên đầy đủ thì bầu chi ủy, từ đảng viên bầu ra bí thư, phó bí thư.

Xem thêm:  Tiêu chuẩn Atex là gì?

4. Tình hình thực tế của tổ chức đảng

Về tình huống

Từ khi thực hiện mở cửa với bên ngoài, Đảng ta đã ra sức xây dựng, củng cố tổ chức đảng thích ứng với giai đoạn cách mạng mới, đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Hầu hết các đảng viên trong đảng bộ cơ sở đều tỉnh táo và thực hiện tốt hơn nữa chức năng nòng cốt là lãnh đạo chính trị ở cơ sở; quán triệt sâu sắc “kinh tế là trung tâm, xây dựng đảng là then chốt”, đặt công tác xây dựng đảng. và củng cố, phát huy các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Xây dựng và thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy và mối quan hệ công tác giữa tổ chức đảng với các tổ chức chính trị cơ sở. Tập trung hướng dẫn, củng cố các tổ chức đảng yếu kém, gắn với thực hiện pháp luật, quy chế dân chủ ở cơ sở, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào xây dựng đảng, củng cố đảng viên.

Công tác lãnh đạo công tác chính trị, lãnh đạo công tác tư tưởng và công tác tổ chức, lãnh đạo của đội ngũ cán bộ cơ sở và các tổ chức chính trị – xã hội có nhiều tiến bộ, công tác xây dựng tổ chức đảng có nhiều chuyển biến tích cực. Trong sinh hoạt của các cấp ủy, chi bộ đã có nhiều chuyển biến tích cực, cơ bản đảm bảo đúng quy định của hiến pháp; thực hiện tốt hơn các nguyên tắc tổ chức đảng, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Hiệu lực chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được nâng cao, tư tưởng của cán bộ, đảng viên ở cơ sở đảng cơ bản ổn định, nội bộ đoàn kết thống nhất. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để nâng cao chất lượng, hiệu quả.

Thường xuyên quan tâm đến công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện, giao nhiệm vụ và kiểm tra, giám sát đảng viên. Cuộc vận động “Học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã đạt được những kết quả quan trọng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên được đào tạo cơ bản, nhiều đồng chí được tôi luyện, thử thách, trưởng thành trong thực tiễn công tác. Đa số đều giữ vững bản lĩnh chính trị, có ý thức giữ vững phẩm chất đạo đức, lối sống, là tấm gương sáng theo đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và điều lệ Đảng; tích cực học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực công tác. hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, số đảng viên phải thi hành kỷ luật giảm dần qua từng năm. Tình trạng quan liêu, thống trị, áp bức, xa lánh nhân dân từng bước được khắc phục. Nhiều giới tinh hoa đã tham gia bữa tiệc.

Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo và hiệu lực chiến đấu của nhiều cơ quan đảng, chính quyền còn yếu, chưa giải quyết được những vấn đề phức tạp từ cơ sở. Ở một số nơi, quyền tự chủ của người dân chưa được phát huy hết. Khả năng vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa hiểu hết chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng, nhất là trách nhiệm lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và tổ chức công tác cán bộ. Hiện chưa có giải pháp tích cực để nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo công tác tư tưởng của cơ quan và lãnh đạo tổ chức chính trị – xã hội. Thậm chí, có nơi cấp ủy thiếu chủ động, ỷ lại chuyên môn hoặc “hợp thức hóa” một số quyết định của lãnh đạo cơ quan, nhất là trong công tác cán bộ.

Chất lượng sinh hoạt đảng còn nhiều hạn chế. Một số cấp ủy, chi bộ chưa thực hiện chế độ sinh hoạt tại chỗ, nội dung sinh hoạt chậm đổi mới, chưa quan tâm đúng mức đến sinh hoạt tư tưởng, sinh hoạt chuyên đề. Trong sinh hoạt, dân chủ chưa thực sự được phát huy, có nơi còn hình thức, tình trạng nể nang, nể nang, né tránh, không dám đương đầu với những biểu hiện tiêu cực còn tương đối phổ biến. Công tác tự phê bình và tinh thần tự phê bình ở nhiều nơi còn yếu, nhất là trong đấu tranh chống tiêu cực ở cơ sở. Còn nhiều tổ chức đảng, cơ sở đảng yếu kém, có thể tiềm ẩn những yếu tố phức tạp về chính trị, xã hội. Một số xã, phường, tổ chức cơ sở đảng ở thị trấn chưa khắc phục được bệnh quan liêu, độc đoán, vai trò của cấp ủy ở các đơn vị hành chính, cơ sở ngoài công lập, doanh nghiệp còn yếu, chưa coi trọng công tác xây dựng đảng. Công tác phát triển đảng viên trong doanh nghiệp tư nhân còn chậm và chưa được quan tâm đúng mức. Việc đánh giá phân loại hàng năm đối với một số tổ chức cơ sở đảng và đảng viên còn hình thức, chạy theo thành tích, chưa phản ánh đúng chất lượng tổ chức đảng và đảng viên. Chưa thật ổn định, sự đồng thuận chưa cao, thậm chí có nơi còn có biểu hiện mất đoàn kết. Công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng còn hạn chế, chưa tích cực triển khai các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi phạm của đảng viên trong tổ chức đảng. Năng lực, trình độ, kinh nghiệm công tác của một số cán bộ, đảng viên chưa đáp ứng yêu cầu. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút ý chí chiến đấu, vi phạm nguyên tắc đảng, thiếu gương mẫu trong lối sống, đạo đức lối làm việc, hoàn thành nhiệm vụ. Tính hợp tác, hợp tác chưa cao, thiếu tình bạn thân thiết. Tình trạng cơ hội, phiến diện, bảo thủ, bè phái, ngoan cố, quan liêu, cá nhân, mất đoàn kết trong đảng bộ chậm được khắc phục.

Xem thêm:  Khái niệm dược động học /dược lực học (PK/PD) và ứng dụng

Đại hội đảng bộ chỉ đánh giá tình hình xây dựng và hoạt động của quân đội, thể hiện vai trò lãnh đạo và hiệu lực chiến đấu của tổ chức đảng được củng cố và nâng cao, chất lượng đội ngũ không ngừng được nâng cao. Một số kết quả tích cực; tập trung hơn vào công tác xây dựng và củng cố thư tín dụng ở các địa bàn, địa bàn trọng điểm khó khăn. Chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức tài chính được xác định hợp lý hơn. Quan tâm, hướng dẫn công tác phát triển, quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Số lượng người mới gia nhập đảng đang tăng lên hàng năm. Bên cạnh đó, hội nghị cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm, chưa khắc phục được của nhiều cán bộ về năng lực lãnh đạo, hiệu lực chiến đấu chưa cao; quản lý đảng viên lỏng lẻo, tổ chức đảng chưa chặt chẽ, sinh hoạt kém; tự phê bình và phê bình yếu. Việc xây dựng vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn chậm, vai trò của các tổ chức đảng còn yếu.

Về nguyên nhân: Những hạn chế, yếu kém nêu trên là do mặt trái của cơ chế thị trường và các yếu tố tiêu cực của xã hội đã tác động không nhỏ đến tư tưởng, nỗ lực phấn đấu của cán bộ, đảng viên. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ chưa quyết liệt, chưa có giải pháp hữu hiệu tạo chuyển biến rất lớn về chất lượng tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Cấp ủy một số cấp chưa hiểu rõ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng, chưa đầu tư nghiên cứu để nâng cao chất lượng hoạt động, chưa quan tâm chỉ đạo xây dựng củng cố các tổ chức cơ sở đảng. Mặt khác, đảng bộ cơ sở nhiều nơi thiếu chủ động, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên chưa được quan tâm đúng mức, có nơi còn buông lỏng. Chưa thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp giữa tổ chức cấp ủy với người phụ trách cơ quan trong công tác xây dựng đảng, quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên. Một số đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo chưa thực sự gương mẫu trong sinh hoạt, thực hiện quy chế, phê bình, phê bình chưa tốt, chưa làm tốt công tác xây dựng đảng ở cơ quan, đơn vị.

5. vấn đề thường gặp.

5.1.Có thể coi đơn vị trực thuộc đảng bộ là tổ chức đảng không?

Quy định về xử lý kỷ luật tổ chức đảng vi phạm số 07-qdi / tw năm 2018 do Ủy ban Trung ương ban hành quy định đoạn đầu của Điều 2:

Tổ chức đảng: Là tổ chức do đại hội bầu ra, cấp uỷ có quyền bầu hoặc chỉ định, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân quyết định, Nguyên tắc tập trung, dân chủ đa số; Thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở đường lối chính trị và hiến pháp của Đảng, gần gũi nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.

Trong Hiến pháp năm 2011 của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chi bộ trực thuộc của Đảng bộ đã quy định như sau:

Các chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở được tổ chức theo địa bàn công tác, nơi cư trú của đảng viên, mỗi chi bộ có ít nhất 3 đảng viên chính thức. Chi bộ có đông đảng viên có thể chia thành nhiều đảng bộ, chi bộ bầu tổ trưởng, trường hợp cần thiết bầu tổ phó; tổ chức đảng hoạt động dưới sự lãnh đạo của cấp ủy.

= & gt; Do đó, pháp luật không làm rõ tổ chức đảng có phải là tổ chức đảng hay không. Nhưng theo chúng tôi, do tổ chức đảng được thành lập theo quy định nên coi đây là một tổ chức đảng.

5.2. Vai trò của nhánh là gì?

Lãnh đạo cộng đồng, ban công tác mặt trận, công đoàn và các ngành nhân dân đồng tâm thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của dân tộc. Các nghị quyết, kế hoạch, phương án của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện về phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh trật tự; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; động viên nhân dân thực hiện nghĩa vụ công dân đối với đất nước; giữ vững ổn định chính trị xã hội trong vùng; Cuộc vận động “Đời sống văn hóa”; thực hiện quy chế dân chủ và thường xuyên liên hệ với đảng viên đang công tác, sinh hoạt ở cộng đồng dân cư.

5.3. Điều kiện thành lập chi bộ là gì?

Các chi bộ, đơn vị, xí nghiệp và các cơ quan, đơn vị, xí nghiệp khác … phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì mới được thành lập chi bộ. Tùy từng cơ quan, đơn vị, tổ chức mà có những điều kiện cụ thể riêng. Để thành lập tổ chức này phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 21, khoản 2, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011.

Nói chung, điều kiện chung để thành lập chi bộ là phải có ít nhất 3 đảng viên chính thức.

Mọi thắc mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Gọi ngay: 1900.3330 để được hỗ trợ Luật sư hình sự trực tuyến qua tổng đài tư vấn . . p>

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *