Một số kỹ năng làm bài văn nghị luận Văn học

Một số kỹ năng làm bài văn nghị luận Văn học

Cách viết văn nghị luận văn học

Video Cách viết văn nghị luận văn học

mot-so-ky-nang-lam-bai-van-nghi-luan-van-hoc

Bạn Đang Xem: Một số kỹ năng làm bài văn nghị luận Văn học

I. Hiểu biết chung về lập luận văn học

1. Triết học

Nghị luận văn học là dạng bài văn phát biểu cảm nghĩ của mình về tác phẩm văn học theo suy nghĩ của bản thân Giá trị quan điểm, chính kiến.

2. Một số yêu cầu chung khi làm văn nghị luận

  • Biết tác giả, lai lịch của tác phẩm, năm ra đời.
  • Biết cảm giác của tác giả.
  • Câu hỏi nghị luận là nghị luận về văn học, có thể là tác giả, tác phẩm, quan điểm về tác phẩm, nhân vật trong tác phẩm.
  • Khi sáng tác thơ cần chú ý đến hình thức như nhịp điệu, nhịp điệu, kết cấu, nghệ thuật đảo ngữ… Chú ý đến tính thẩm mỹ của tác phẩm.
  • Tác phẩm văn xuôi cần chú ý đến cốt truyện, nhân vật, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu, cốt truyện. Cần phải đào sâu nội dung hiện thực và nội dung tư tưởng của tác phẩm cũng như thông tin tác giả. Dẫn chứng cần chính xác, chọn lọc.
  • 3. Chủ đề nghiên cứu

    • Các chủ đề học bao gồm tìm ý và lập dàn ý. Đây là một bước quan trọng trong việc xác định
    • Để làm tốt bài văn nghị luận, các em cần nắm vững kĩ năng phân tích trình tự: lập ý, lập dàn ý, bố cục văn bản và kiểm chứng.
    • Hai. Các bước tạo một bài luận văn học

      1. Các bước nhắm mục tiêu

      Trước khi làm bài, các em cần nắm chắc nội dung đề, yêu cầu của đề, hướng xây dựng văn bản. Bước định hướng là một bước rất quan trọng trong một bài văn nghị luận. Định hướng đúng sẽ tránh được các thể loại nhầm lẫn và lạc đề. Vì vậy, cần đọc kỹ để xác định:

      • Loại
      • Nội dung
      • Giới hạn chủ đề
      • Yêu cầu phụ.
      • Thông thường có hai dạng câu hỏi bố cục: một là dạng câu hỏi nổi, dễ nhận biết trong văn bản, cần gạch chân từ khóa để dễ viết bài. Đối với phụ đề, cần nghiên cứu kỹ nội dung ẩn chứa của tác phẩm, dụng ý nghệ thuật của tác giả, chủ đề của tác phẩm để xác định mục tiêu của bài viết.

        2. Phác thảo các bước

        Đòi hỏi kiến ​​thức để nhìn nhận và kiểm tra lại giá trị nội dung tác phẩm.

        • Nội dung cơ bản (Tìm ý): Ở bước này, chúng ta cần hệ thống lại các kiến ​​thức về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
        • Bố cục bài viết (dàn bài): Sắp xếp các ý theo trình tự logic (lớn nhất đến nhỏ nhất, nghệ thuật, nội dung).
        • Khi đã tìm ra ý tưởng, cần phác thảo sơ bộ rồi phát triển thành dàn ý chi tiết.

          3. Các bước để tạo văn bản

          Dựa trên dàn ý đã thiết lập, bắt đầu sản xuất tài liệu. Đây là bước quan trọng nhất. Hãy ghi nhớ những điều sau:

          • Đây là văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ chính luận nên chú ý đặc điểm chung và đặc điểm biểu đạt;
          • Bố cục theo ba phần: mở bài, thân bài, kết luận (tóm tắt-phân tích-tổng hợp);
          • Hãy chú ý đến thể loại của tác phẩm để chọn thứ tự cho phù hợp:
          • + Văn tự sự, chú trọng phân tích nội dung, cốt truyện, nhân vật, tình huống truyện. Khi phân tích cần tách nội dung và nghệ thuật (nội dung trước, nghệ thuật sau).

            + Thể loại trữ tình cần chú ý đến việc thể hiện tình cảm, cảm xúc, hình ảnh nhịp điệu. Phân tích nghệ thuật trong mối quan hệ với nội dung.

            • Cần liên kết các câu, các đoạn một cách logic.
            • 4. Các bước kiểm tra

              Sau khi viết xong đoạn văn cần kiểm tra ý nào. Dành 5 phút cuối để đọc lại toàn bộ bài viết, sửa lỗi chính tả và dấu câu.

              Ba. Cấu trúc của một bài văn nghị luận văn học

              1. Cấu trúc giới thiệu

              Xem Thêm: Thông tin về Cookies

              Phương pháp 1

              Giới thiệu

              Tác giả

              Tình huống

              Nhà soạn nhạc

              Chủ đề và ý tưởng

              Tác phẩm

              Xem Thêm : Giải toán lớp 4 SGK tập 1 trang 90, 91 chính xác nhất

              Trích dẫn, nhận xét chung

              Ví dụ:

              Xuất hiện trên đàn tỳ bà Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, bà Thanh Tuyền đi vào lòng người bởi nét vẽ thanh tao, điêu luyện. Cô ấy không viết nhiều thơ, nhưng mỗi bài đều là một kiệt tác. Trên đường từ Thăng Long vào kinh đô Huế, nàng dừng chân trên đỉnh đèo, vô cùng xúc động trước cảnh núi sông trong tầm tay, những bài thơ về sông núi ra đời từ đây đã miêu tả điều này. cảnh và bày tỏ nỗi nhớ của cô ấy về thời gian. .Bài thơ này đã ghi tên bà vào lịch sử thơ ca.

              Phương pháp 2:

              Chọn đoạn thơ phù hợp với nội dung tác phẩm để cắt thành đoạn theo chủ đề

              Giới thiệu

              Tình huống sáng tác

              Chủ đề và tư tưởng của tác phẩm

              Xem Thêm : Giải toán lớp 4 SGK tập 1 trang 90, 91 chính xác nhất

              Trích dẫn, nhận xét chung

              Ví dụ:

              “Ôi, tôi nhớ bạn, tôi nhớ bạn!

              Một con chim biến mất sau một nghìn năm”

              (Chuẩn bị hoa lan)

              Bạn đi đâu hỡi con chim lẻ loi trong một chiều thu? Từ bao đời nay, mùa thu thường mang đến cho thi nhân nỗi buồn sâu lắng và gợi nên nỗi nhớ da diết. Trước tiết trời se lạnh, những chiếc lá vàng rơi nơi miền quê chiêm trũng đã chạm đến trái tim của Tan Ruan Yandao, nên thơ và đẹp như tranh vẽ, giống như tiếng nói từ trái tim, nói lên nỗi sầu muộn của thời đại. Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của mùa thu thôn quê Việt Nam. Bài thơ này ra đời nhằm miêu tả cảnh sắc mùa thu ở làng quê Bắc Bộ, đồng thời thể hiện nỗi nhớ da diết.

              Xem Thêm: Văn bản Hoàng Lê nhất thống chí Trích hồi 14, Hoàng Lê nhất thống chí

              Bài thơ này là một kiệt tác miêu tả mùa thu trong nền văn học Việt Nam.

              Phương pháp 3:

              Mượn nội dung và tiêu đề để nhập chủ đề

              Giới thiệu

              Tình huống sáng tác

              Chủ đề và tư tưởng của tác phẩm

              Xem Thêm : Giải toán lớp 4 SGK tập 1 trang 90, 91 chính xác nhất

              Trích dẫn, nhận xét chung

              Ví dụ:

              Với quy luật khắc nghiệt của thời gian, năm tháng sẽ trôi qua, nhưng có một điều đáng ghi nhớ trong tâm trí mỗi người, một thời không thể nào quên. Vâng! Đó là những năm tháng đau thương và hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại. Khí thế cả nước tham chiến như một cơn gió thổi vào tâm hồn Fan Xiandou, và thế là bài thơ “Đoàn xe đeo kính” ra đời khắc họa hình ảnh người lính lái xe trong trang phục gan dạ. Xe.Anh dũng lên tuyến lửa Trường Sơn. Đặc biệt là ba phần đầu tiên:

              “Không có kính không phải vì xe không có kính

              bom giật bom làm vỡ kính

              Không tắm rửa, châm thuốc

              Nhìn nhau cười…”

              Xem Thêm : Giải Sinh 9 Bài 1: Menđen và Di truyền học

              Đoạn trích ca ngợi vẻ đẹp của người lính và chủ nghĩa anh hùng của cách mạng.

              * Lưu ý về trích dẫn:

              • Đối với một bài thơ hoặc đoạn trích ngắn (dưới 8 dòng), bạn cần chép lại toàn bộ bài thơ hoặc đoạn trích. Tuy nhiên, khi phân tích đoạn trích trong phần mở đầu, cần giới thiệu nội dung của đoạn trích bên cạnh phần giới thiệu chung về tác phẩm (xem ví dụ phần mở đầu ở cách 3).
              • Đối với những bài thơ dài, phần trích chỉ nên giới thiệu dòng đầu và dòng cuối. Phân tích đoạn thơ mở đầu của Đồng chí lấy người lính làm nền:
              • “Quê tôi chua mặn”

                Và kết thúc bằng một hình ảnh lãng mạn:

                “Đầu súng trăng treo”.

                • Đối với truyện (văn xuôi tự sự), không trích dẫn tiêu đề.
                • 2. Cấu trúc đoạn thân bài

                  • Các đoạn thân bài trong một bài phân tích thường theo thứ tự: tổng quan-phân tích-tổng hợp. Đối với thể loại trữ tình, có thể kết cấu đoạn văn như sau:
                  • Mở đầu câu (khái quát): Dùng các nét nghệ thuật để giới thiệu nội dung khái quát hoặc giới thiệu đại ý của một phần, một đoạn, một đoạn văn.
                  • Trích đoạn thơ, câu thơ, đoạn văn.
                  • Phân tích:
                    • Giải nghĩa từ, câu
                    • Nghệ thuật (giọng điệu, không gian, thời gian, từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ… và tác dụng làm rõ nội dung)
                    • Thể hiện nội dung
                    • Thông tin liên hệ của tác giả, nền tảng xã hội
                    • So sánh các tài liệu liên quan, cảm nhận của nhà phân tích.
                      • Câu kết và phần chuyển tiếp (tóm tắt)
                      • * Lưu ý khi viết nội dung

                        • Trong quá trình phân tích trình tự có thể thay đổi theo ý đồ riêng của tác giả, không nhất thiết phải dựng từng đoạn như mẫu trên, nhưng có thay đổi hoạt cảnh.
                        • Thường thì phần đầu của thân bài nên giới thiệu hoàn cảnh xã hội. Ví dụ, khi phân tích bài thơ “Đồng chí – Chính nghĩa”, phần đầu của văn bản cần liên hệ với tình hình nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
                        • Sau khi giới thiệu hoàn cảnh xã hội đương thời, cần phân tích thêm nhan đề bài thơ.
                        • Phần cuối của văn bản nên liên quan đến giá trị tư tưởng hoặc ý nghĩa thực tiễn của khóa học.
                        • Xem Thêm: Công thức tính vận tốc trung bình dễ nhất 2022

                          Đây là cấu trúc chung của văn bản:

                          • Địa vị xã hội
                          • Phân tích theo bố cục phần:
                            • Đối với thơ: kết hợp giữa nghệ thuật và nội dung (chú ý hơn về sắc thái biểu đạt).
                            • Đối với truyện, chúng tôi chủ yếu phân tích nội dung hiện thực và nội dung tư tưởng, sau đó phân tích nghệ thuật (từng nội dung viết đoạn văn riêng, sau đó tạo đoạn văn phân tích nghệ thuật).
                              • Giá trị tư tưởng, mối liên hệ, so sánh với thực tế cuộc sống.
                              • Đoạn văn được xây dựng theo đoạn văn

                                Ví dụ 1: Phân tích đoạn văn, cặp câu trong bài văn tế – nguyễn khuyến

                                Không chọn cho mình dòng sông êm đềm xuôi dòng đến ao rộng, hồ nước lấp lánh trời xanh mây trắng, không gian mùa thu của nguyễn khuyến là một làng quê thấp thoáng bên ao nhỏ quen thuộc:

                                “Nước ao trong veo giữa mùa thu se lạnh,”

                                Một chiếc thuyền đánh cá nhỏ. “

                                Cái ao làng nhỏ “một vũng nước đọng” bỗng trở nên trong lành trong khung cảnh mùa thu của cố nhân. Thuật ngữ “ao thu” là sự kết hợp độc đáo giữa không gian và thời gian. Thời gian ở đây không phải là một khoảnh khắc mùa thu, không phải là một ngày mùa thu mà là cả mùa thu đọng lại trong mặt hồ thơ mộng. Khám phá độc đáo là nhà thơ đã khoác lên mình chiếc áo thu huyền diệu để làm cho mặt ao “trong veo”, như một tấm gương của thiên nhiên, thu cả trời xanh, mây trắng và bóng thuyền chài, người dân ven hồ. Bầu trời thu, mặt ao thu, những đoàn thuyền đánh cá, những người dân chài hài hòa trong bức tranh nên thơ, nhưng sắc thu lại đượm buồn. Mùa thu nóng bức. Mùa hè mà thi nhân nghe lạnh cả cõi đời, lạnh cả tâm hồn. Vì sao ngọn gió mùa thu vạn năm vô hình “lạnh lùng” tê tái hay chính cái lạnh buồn sâu thẳm trong lòng thi nhân lan tỏa, thấm vào ngàn cỏ cây, thấm vào hơi thở của đất? Bầu trời, thấm lạnh vào tâm hồn người đánh cá co ro trong thuyền. Ngôn ngữ rất cô đọng, nhưng cách gieo vần độc đáo “eo” trong “lạnh lùng”, “trong trẻo”, “tèo tèo” đã chắt lọc không gian bao la thành một phạm vi hẹp. Dù vũng nhỏ nhưng ngư dân không ngồi bờ. Vì dù sao ngồi trên bờ cũng có bờ cỏ làm điểm tựa. Ngoài ra, ngồi trên bờ nên tầm nhìn bị hạn chế vì chỉ nhìn được một phía. Nhà thơ đặt ngư dân trên một chiếc thuyền thúng nhỏ thả ra giữa ao, trong một không gian nhỏ yên tĩnh, phóng tầm mắt ra bốn phía, người đánh cá có thể cảm nhận được hương, sắc, thanh của mùa thu. Mùa thu, và nỗi cô đơn của chính mùa thu. Đọc thơ nguyễn sao mình không nghĩ đến vu đình liên :

                                “Gió có thể ở rất xa

                                Lạnh lùng chẳng biết gửi ai”

                                Cái lạnh của gió vô tình gợi lên sự cô đơn, trống vắng, còn cái “lạnh” của gió Nguyễn Quang Âm cứ mãi khuấy động lòng người, trăn trở trước những nỗi đau của cuộc đời.

                                (Nguyễn Văn Thanh)

                                Ví dụ 2: Bài viết về chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sinh

                                “Lần đầu tiên, không ai ngờ, thu cất tiếng gọi cha. Đó là tiếng khóc xé lòng, xé không khí, xé ruột gan ai, như thế. Hoang vắng. Đó là tiếng của thu đã từng bị kìm nén trong nhiều năm. Giọng nói của cha cô như bật ra từ tận đáy lòng. Đau đớn thay, đây là cuộc điện thoại đầu tiên và cũng là cuối cùng trong cuộc đời cô. Cuộc gọi của cha kéo theo một loạt động tác ” Nó chỉ kịp hét lên một tiếng rồi lao tới, nhanh như sóc, nó chồm lên, vươn vai hoặc vòng tay ôm lấy cổ bố, rồi nó hôn khắp người bố, hôn lên tất cả vết thương và vết sẹo dài trên người bố. má cha”. Tất cả những hành động ấy đều thể hiện một cảm giác khao khát mãnh liệt, vội vàng xen lẫn hối hận. Khi nghe ông nội nói: “Dạ, đi nghe cháu”, chú hét lên “Không! ’ rồi ‘hai tay ôm lấy cổ bố, hai chân giang ra ôm lấy ba, đôi vai nhỏ run run’, rồi đứa bé khóc. Đó là tiếng khóc ăn năn về lỗi lầm của mình, về người cha đau khổ của nó. Khi nó hiểu ra mọi chuyện, khi nó Anh nhận ra cha mình thì đã quá muộn Vì vậy, mọi hành động của Arthur đối với cha anh dường như là để bù đắp cho những mất mát trong quá khứ Nhìn những biểu hiện yêu thương này, hai cha con không thể giúp được gì. nhưng lại rơi nước mắt khi chẳng có gì khác biệt Chỉ có chú-người dẫn chuyện là cảm thấy có một bàn tay đang nắm giữ trái tim mình. cảm xúc.”

                                (Nguyễn Hiên Nha)

                                3. Cấu trúc đoạn kết luận

                                Có một nghệ thuật để kết thúc. Làm sao để lại niềm xúc động sâu sắc trong lòng người đọc. Cấu trúc thường là:

                                • Kết hợp đánh giá tổng thể về nghệ thuật và nội dung để hình thành những kết luận quan trọng.
                                • Ý kiến ​​chung của nhà phân tích.
                                • Để kết bài hay, có thể chọn hai câu thơ kết bài rất hay để tạo ấn tượng. Ví dụ làm bài thơ xuân và phân tích kết bài-Thanh Hải:

                                  Ca từ giản dị chân thành, tứ thơ sâu lắng như Thanh Hải trong tiết tấu mềm mại, đối diện với thiên nhiên, con người và cuộc đời. Bài thơ này thể hiện tư tưởng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, sống là cống hiến đời mình, cho Tổ quốc. Tình yêu cuộc sống nhân hậu, giản dị và chân thành sẽ còn mãi trong tim mỗi người. Chúng tôi có rất nhiều suy nghĩ, và chúng tôi cũng muốn trở thành một “Koizumi” và góp phần “đẩy quê hương lên hàng đầu thế giới”. Xuân ấm hoa nở” (Mùa xuân hoa lê).

                                  Để viết được một bài văn hoàn chỉnh, các em cần chú ý thời gian làm bài. Hãy thử tính toán thời gian bố cục hợp lý sau đây, và đảm bảo bố cục đủ 3 phần mở bài – thân bài – kết bài. Trong trường hợp bình thường, phần mở đầu và kết thúc của mỗi phần tối đa là 1/5 thời lượng cho phép. Phần cơ thể từ 3/5 đến 3/4 thời gian. Phải tận dụng triệt để thời gian cho phép, tránh để công việc kết thúc sớm hoặc hết thời gian (công việc dang dở).

                                  Trên đây là một số gợi ý viết bài nghị luận văn học. Chúc may mắn với bài tập về nhà của bạn.

                                  Biên soạn vũ thị hoàng phương

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục