NHU CẦU VỀ DINH DƯỠNG – KHẨU PHẦN ĂN – Health Việt Nam

NHU CẦU VỀ DINH DƯỠNG – KHẨU PHẦN ĂN – Health Việt Nam

Bảng nhu cầu dinh dưỡng

Nhu cầu dinh dưỡng – Định lượng – Dinh dưỡng – Rối loạn tiêu hóa

Bố cục

Trong cơ thể con người tồn tại hai quá trình đối lập nhau nhưng luôn phụ thuộc lẫn nhau và có quan hệ mật thiết với nhau: quá trình đồng hóa và dị hóa.

Bạn Đang Xem: NHU CẦU VỀ DINH DƯỠNG – KHẨU PHẦN ĂN – Health Việt Nam

Quá trình đồng hóa

Bao gồm các phản ứng chuyển hóa các phân tử hữu cơ (đường, protein, lipid) trong thức ăn có nguồn gốc khác nhau (động vật và thực vật) thành các chất hữu cơ đặc trưng cho cơ thể, tham gia vào quá trình hình thành, lớn lên và dự trữ của cơ thể. Thực hiện phản ứng này cần năng lượng.

Dị hóa

Gồm phản ứng phân giải các chất hữu cơ thành các sản phẩm trung gian, loại bỏ các chất thải (co2, h2o, urê…) không còn cần thiết trong cơ thể, phản ứng này sinh ra năng lượng dưới dạng nhiệt. Năng lượng dùng cho tổng hợp và các phản ứng khác của cơ thể (co cơ, hấp thu, bài tiết…).

Ở trẻ nhỏ, quá trình đồng hóa diễn ra mạnh hơn quá trình dị hóa: khi được nuôi dưỡng tốt, cơ thể cao lớn và tăng cân.

Ở tuổi trưởng thành: Nếu ăn nhiều sẽ tăng cân, chất dư thừa sẽ tích trữ trong cơ thể dưới dạng mỡ và đường.

Ở người bệnh, quá trình dị hóa tăng (do tiêu hao năng lượng, sinh nhiệt, hủy mỡ), nếu thiếu hụt dinh dưỡng, cơ thể sử dụng đường làm năng lượng, người bệnh gầy sút, sức đề kháng bệnh tật kém.

Vì vậy, chế độ dinh dưỡng rất cần thiết cho cơ thể. Vậy dinh dưỡng là cung cấp cho cơ thể những thức ăn cần thiết cho sự sống. Thực phẩm phải đảm bảo 3 chức năng: Cung cấp:

Các chất sinh năng lượng trong quá trình dị hóa.

Các tài liệu được sử dụng để sắp xếp các bản dựng và bản lưu.

Các chất cần thiết để điều hòa các quá trình sinh hóa trong cơ thể.

Thực phẩm chúng ta ăn hàng ngày bao gồm 5 loại chất dinh dưỡng: chất bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin và chất khoáng. Đường, đạm, béo là ba chất có khả năng sinh năng lượng hay còn gọi là chất hữu cơ. Vitamin, chất khoáng và nước là những chất không sinh năng lượng (chất vô cơ).

Yêu cầu về dinh dưỡng bao gồm yêu cầu về năng lượng và yêu cầu về nguyên liệu:

Nhu cầu năng lượng hàng ngày bao gồm nhu cầu năng lượng cho quá trình trao đổi chất cơ bản và nhu cầu năng lượng cho hoạt động thể chất. Nhu cầu năng lượng hàng ngày phụ thuộc vào từng cá nhân, từng giai đoạn phát triển và mức độ lao động của mỗi cá nhân.

Nhu cầu vật chất bao gồm:

Protein, lipid, carbohydrate.

Vitamin: dễ tan trong nước và dầu.

Khoáng chất: sắt, canxi, miligam, kali, phốt pho…

Nước, chất xơ.

Khẩu phần ăn là lượng thức ăn mà một người cần dùng trong 24 giờ để đáp ứng nhu cầu năng lượng và vật chất của cơ thể. Nhu cầu còn lại trong khẩu phần ăn không thể xác định một cách tuyệt đối mà còn tùy thuộc vào đối tượng, cường độ lao động, thể trạng và tình trạng sức khỏe.

Chế độ ăn cần cân đối giữa đạm, đường, béo, vitamin và khoáng chất.

Yêu cầu dinh dưỡng

Yêu cầu về năng lượng

Yêu cầu về năng lượng bao gồm đáp ứng nhu cầu năng lượng cho quá trình trao đổi chất cơ bản và cung cấp năng lượng cho hoạt động thể chất. Năng lượng trao đổi chất cơ bản là năng lượng cần thiết để duy trì sự sống. Năng lượng cần thiết cho hoạt động thể chất phụ thuộc vào loại hoạt động của mỗi cá nhân.

Để duy trì các hoạt động sống và làm việc bình thường, cơ thể cần được cung cấp năng lượng thường xuyên, năng lượng được cung cấp bởi quá trình dị hóa trong cơ thể, thức ăn là nguồn năng lượng chính và được tiêu hao chủ yếu. Tiêu thụ năng lượng hàng ngày bao gồm:

Năng lượng cần thiết cho quá trình trao đổi chất cơ bản

Định nghĩa

Năng lượng cần cho chuyển hóa cơ bản là để duy trì sự sống (trong điều kiện nghỉ ngơi, nhịn ăn, nhiệt độ 18-200C) cho các hoạt động sinh lý cơ bản như tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, hoạt động của các tuyến và duy trì thân nhiệt khoảng 1400 Năng lượng – 1600 calo/ngày/người lớn.

Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển hóa cơ sở

Tuổi: Người trẻ cần chuyển hóa cơ bản nhiều hơn người lớn tuổi.

Giới tính: Nam giới có nhu cầu trao đổi chất cơ bản cao hơn nữ giới.

Nhiệt độ môi trường: thời tiết lạnh có nhu cầu trao đổi chất cơ bản cao hơn thời tiết nóng.

Nhiệt độ cơ thể: Nhiệt độ cơ thể cao hơn bình thường 10°C và chuyển hóa cơ bản cao hơn 13% so với yêu cầu chuyển hóa cơ bản bình thường.

Để tính nhu cầu năng lượng, người ta dùng kilocalorie (1kcalor = 1.000 calo)

Nhu cầu năng lượng của một người trưởng thành trung bình

Nam giới: 2.600 – 3.000 kcal/ngày.

Nữ: 2.000 – 2.500 kcal/ngày.

Nhu cầu năng lượng hàng ngày thay đổi theo cường độ lao động

Lao động nhẹ: 2.200 – 2.400 calo: lao động trí óc.

Công nhân trung bình: 2.600 – 2.800 kcal: công nhân công nghiệp, sinh viên.

Hoạt động thể lực nặng: 3.000 – 3.600 calo: Chiến sĩ luyện tập thể thao.

Lao động cực nhọc: >3.600 Calo: Thợ mộc, Công nhân xây dựng, Thợ vận chuyển.

Cách tính nhu cầu năng lượng

Bảng 35.1. Công thức tính nhu cầu năng lượng trao đổi chất cơ bản dựa trên trọng lượng cơ thể (w/kg)

Nhóm tuổi

Nam

Phụ nữ

0 – 3

3 – 10

10 – 18

18 – 30

30 – 60

>60

60,9 xw + 54

22,7 xw + 495

17,5 xw + 651

15,3 xw + 679

11,6 xw + 487

13,5 xw + 487

61.0 xw + 51

22,5 xw + 499

12,2 xw + 746

14,7 xw + 496

8,7 xw + 829

10,5 xw + 506

Bảng 35.2.So sánh hệ số nhu cầu năng lượng hàng ngày của người trưởng thành và chuyển hóa cơ bản

Loại lao động

Nam

Phụ nữ

Lao động chân tay nhẹ nhàng

Lao động trung bình

Cu cu

1,55

1,78

2,10

1,56

1,61

1,82

Nhu cầu năng lượng hàng ngày của một người được tính như sau: năng lượng yêu cầu/ngày bằng năng lượng yêu cầu chuyển hóa cơ bản nhân với hệ số loại lao động. (Dựa theo bảng nhu cầu năng lượng của Trung Tâm Dinh Dưỡng TP.HCM).

Yêu cầu chất lượng

Hữu cơ

Đạm

Hành động

là một khối xây dựng thiết yếu của tất cả các tế bào sống. Có hơn 1.000 loại protein khác nhau trong cơ thể con người, bao gồm các loại khác nhau và được chia thành 22 khối xây dựng cơ bản được gọi là axit amin. Mặc dù, giống như các phân tử carbohydrate, axit amin chứa carbon, hydro và oxy, sự khác biệt là chúng cũng chứa nitơ. Có 9 axit amin được coi là thiết yếu vì cơ thể không tự tổng hợp được, các axit còn lại đều quan trọng như nhau nhưng cơ thể có thể tổng hợp được nếu được cung cấp nitơ nên gọi là dư thừa.

là chất tăng trưởng và sửa chữa mô.

là những khối xây dựng nên cấu trúc cơ thể: xương, cơ, gân, mạch máu, da, tóc, móng.

là các thành phần của dịch cơ thể: enzym, protein, huyết tương, chất dẫn truyền thần kinh, chất bài tiết.

Thành phần của hormone.

Giúp cân bằng chất lỏng trong cơ thể thông qua áp suất thẩm thấu.

Giúp điều chỉnh cân bằng axit-bazơ.

Xem Thêm: Di tích lịch sử Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên (huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An)

Một phần của nhân và nguyên sinh chất của tất cả các tế bào.

Là thành phần chính của kháng thể.

Vận chuyển chất béo và các chất khác vào máu.

Là thành phần của enzym xúc tác quá trình trao đổi chất.

Hỗ trợ giải độc các dị vật và hình thành các kháng thể giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng và các bệnh khác.

Giúp vận chuyển chất béo, vitamin tan trong chất béo, khoáng chất và một số chất khác qua máu.

Các chuyên gia khuyên chúng ta nên ăn ít đạm động vật và nhiều đạm thực vật hơn; thiếu đạm được mô tả là phù nề, chậm lớn và thường xuyên lở loét, hủy hoại cơ, thay đổi lông, suy giảm vĩnh viễn sự phát triển của não và cơ thể (đặc biệt ở trẻ em), Tiêu chảy , tiêu chảy, kém hấp thu, suy dinh dưỡng, gan nhiễm mỡ, tăng nguy cơ nhiễm trùng, tử vong cao.

Lượng cần thiết: 1-1,5 g/kg/ngày

15% tổng nhu cầu năng lượng hàng ngày.

1g protein ặ4 kcalor để chuyển hóa hoàn toàn.

Tỷ lệ đạm động vật/đạm thực vật là 50-60%.

Nhà cung cấp:

Động vật: thịt, cá, trứng

Thực vật: đậu tương, nấm

Đạm động vật rất giàu axit amin, đặc biệt là những axit amin mà cơ thể người không tự tổng hợp được, không có trong đạm thực vật, trừ đậu nành.

Sử dụng protein để tạo năng lượng đắt hơn về mặt sinh lý và kinh tế so với sử dụng carbohydrate; sau khi protein được chuyển hóa qua thận, nitơ bị giữ lại nên năng lượng cần thiết sẽ được bài tiết dưới dạng carbohydrate, lượng protein dư thừa có thể được chuyển thành chất béo để dự trữ .

Chất béo

Chất béo trong chế độ ăn uống, còn được gọi là lipid, là những chất không hòa tan trong nước và do đó trong máu, và giống như carbohydrate, chúng bao gồm hydro, carbon và oxy. 95% chất béo trong chế độ ăn uống là chất béo hoặc dầu, nói cách khác, đây là những chất béo đơn giản. Lớp lipid kép là một phospholipid, là một lipid liên kết với một chất khác và một pro-lipid (chẳng hạn như cholesterol), được thiết kế để duy trì sự hấp thu lipid. Triglyceride, dạng chất béo dễ thấy nhất trong thực phẩm và là dạng dự trữ chính của chất béo trong cơ thể, bao gồm một phân tử glycerol và ba axit béo, khác nhau về độ dài và mức độ bão hòa. Hầu hết chất béo trong thực phẩm được tạo thành từ các chuỗi axit béo (chúng có hơn 12 nguyên tử cacbon).

Axit béo bão hòa không thể liên kết với bất kỳ nguyên tử hydro nào và tất cả các nguyên tử carbon đều bão hòa. Axit béo không no có một hoặc nhiều liên kết đôi với liên kết đôi giữa hai nguyên tử cacbon nên có khả năng liên kết với nguyên tử hydro nếu liên kết đôi bị đứt trong chất béo ở thực phẩm chứa axit béo no và không lẫn lộn với nhau. Hầu hết các chất béo động vật được coi là bão hòa vì chúng chứa nhiều axit béo bão hòa và ở thể rắn ở nhiệt độ phòng. Ngược lại, hầu hết các chất béo thực vật được coi là axit béo không bão hòa vì chúng chứa nhiều axit béo không bão hòa, ở dạng lỏng ở nhiệt độ phòng và được coi là dầu. Chất béo bão hòa làm tăng mức cholesterol trong cơ thể, trong khi chất béo không bão hòa làm giảm chúng.

Cholesterol là một chất giống như chất béo chỉ có trong thực phẩm động vật. Cholesterol không cần thiết được cung cấp thông qua chế độ ăn uống vì cơ thể chúng ta có thể tổng hợp nó.

Cholesterol là thành phần quan trọng của màng tế bào và đặc biệt có nhiều trong não và tế bào thần kinh. Nó cũng được sử dụng trong quá trình tổng hợp axit mật cũng như tiền thân của hormone steroid và vitamin D. Mặc dù cholesterol có nhiều chức năng trong cơ thể, nhưng mức cholesterol tăng cao có liên quan đến việc tăng nguy cơ xơ vữa động mạch. Các chuyên gia khuyên chúng ta nên hạn chế ăn cholesterol, ăn ít chất béo, đặc biệt là chất béo bão hòa, ăn nhiều chất béo không bão hòa và tăng lượng chất xơ, sẽ làm tăng bài tiết cholesterol trong phân.

Axit linoleic là một loại axit béo đặc biệt mà cơ thể con người không thể tổng hợp được, vì vậy nó được gọi là axit béo thiết yếu. Axit linoleic rất quan trọng đối với sức mạnh của mao mạch.

Chế độ ăn nhiều chất béo làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, do đó có liên quan đến nguy cơ ung thư ruột kết và ung thư vú.

Hành động

Đó là nguồn và dự trữ năng lượng cho cơ thể.

Làm đệm cho các cơ quan nội tạng.

Dung môi vitamin tan trong chất béo a, d, e, k.

Cung cấp giá đỡ, cấu trúc và điều chỉnh nhiệt độ.

Chất béo tạo thêm vị ngọt cho thức ăn.

Xem Thêm : Văn mẫu lớp 12: Nghị luận xã hội về tình yêu thiên nhiên (Dàn ý 3 Mẫu) Những bài văn hay lớp 12

Lượng cần thiết: 0,7 – 2g/kg/ngày.

20% tổng nhu cầu năng lượng.

Chuyển hóa hoàn toàn 1g lipid → 9 calo.

Nhà cung cấp

Mỡ động vật: Thịt lợn, gà, gia súc (trừ cá) thường chứa nhiều cholesterol, dễ gây xơ vữa động mạch.

Dầu thực vật: Dầu mè, dầu đậu nành, dầu lạc rất giàu axit béo không no, có khả năng chống lại sự phát triển của xơ vữa động mạch.

Đường (carbohydrate)

Carbohydrate, thường được gọi là đường và tinh bột, là những dạng phức tạp của carbon, hydro và oxy. Chúng tạo thành cấu trúc mô của thực vật và nguồn carbohydrate động vật duy nhất là đường sữa hoặc đường sữa.

Không thể phóng đại tầm quan trọng của carbohydrate vì chúng dễ sản xuất và lưu trữ; chúng là nguồn năng lượng dồi dào nhất và rẻ nhất ở bất cứ đâu trên thế giới. Ở nước tôi, nguồn lương thực chính là gạo và carbohydrate có thể chiếm 65% tổng nhu cầu năng lượng.

Dựa trên số lượng phân tử có trong cấu trúc, carbohydrate được chia thành hai loại: đường đơn (monosacarit, disacarit) và đường phức tạp (polysacarit). Monosacarit chỉ chứa một phân tử đường và được coi là loại đường đơn giản nhất, chúng được hấp thụ trực tiếp vào máu mà không cần men tiêu hóa. Các monosacarit quan trọng bao gồm: glucose, glucose, galactose và fructose. Disacarit là đường đôi bao gồm glucose và một chất thải monosacarit khác (sucrose, lactose, mannose) được phân hủy bởi các enzyme tiêu hóa trước khi được hấp thụ. Polysacarit như tinh bột, glycogen, cellulose và một số chất xơ khác là những phân tử phức tạp bao gồm hàng trăm đến hàng nghìn phân tử glucose.

Carbohydrate được hấp thụ dễ dàng và nhanh hơn protein và chất béo, 90% carbohydrate được tiêu hóa và tỷ lệ này tăng lên nếu bạn ăn nhiều chất xơ hơn. Mặc dù một lượng nhỏ tinh bột nấu chín có thể được tiêu hóa trong miệng, nhưng trên thực tế, ruột non mới chứa các enzym tiêu hóa thức ăn trước: polysacarit và disacarit được phân hủy bởi các enzym tuyến tụy thành các loại đường đơn giản, sau đó được hấp thụ bởi niêm mạc đường tiêu hóa. và vận chuyển đến gan bằng tĩnh mạch cửa. Cellulose và các chất xơ khó tiêu hóa khác được bài tiết dưới dạng không thay đổi trong phân.

Tại gan, đường đơn được chuyển thành glucose, sau đó được giải phóng vào máu để duy trì lượng đường trong máu bình thường. Các mô bình thường và các tế bào thần kinh trung ương coi glucose là nguồn nhiên liệu duy nhất của chúng. Do đó, glucose phải được cung cấp liên tục. Các nội tiết tố, đặc biệt là insulin và glucagon, giữ cho lượng đường trong máu ở mức tối ưu ngay cả trong thời gian nhịn ăn hoặc ăn quá nhiều. Các tế bào oxy hóa glucose để cung cấp năng lượng, carbon dioxide và nước. Glucose khi bị oxy hóa hoàn toàn sẽ tiết ra rất hiệu quả và không bài tiết chất thải qua thận. Nếu cơ hoặc gan không đủ glycogen, glucose sẽ được chuyển hóa thành glycogen và dự trữ ở gan, khi cơ thể cần glucose, glycogen sẽ được phân giải thành glucose, còn lượng glycogen dư thừa sẽ chuyển hóa thành mỡ và dự trữ dưới dạng Triglyceride trong cơ thể. mô mỡ.

Hành động

Chủ yếu để cung cấp động lực.

<3

Carbohydrate cũng cần thiết để đốt cháy chất béo để lấy năng lượng, giúp bảo vệ sự hình thành thể xeton.

Đó là thành phần cấu trúc của axit nucleic, glycoprotein, glycolipid và các chất quan trọng khác.

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng lượng carbohydrate cũng ảnh hưởng đến tính khí, giúp cải thiện sức chịu đựng, thư giãn cơ bắp, điều độ và giảm tình trạng yếu ớt, tùy thuộc vào độ nhạy cảm của từng cá nhân đối với chất dinh dưỡng này.

Yêu cầu: 5-7g/kg mỗi ngày

Khoảng 65% tổng nhu cầu năng lượng.

1g glucose chuyển hóa hoàn toàn → 4 kcalor.

Nguồn: Ngũ cốc, khoai tây, củ, đường…

Chất vô cơ

Nước

Là thành phần chính của mỗi tế bào trong cơ thể, nước chiếm 65-70% trọng lượng cơ thể nhưng phân bố không đều, tỷ lệ nước trong cơ thể bé lại càng cao. Khoảng 2/3 lượng nước trong cơ thể con người tồn tại trong các tế bào (còn gọi là dịch nội bào) và phần còn lại được gọi là dịch ngoại bào, bao gồm huyết tương, dịch kẽ và các dịch cơ thể khác. Tổng lượng nước trong cơ thể và dịch ngoại bào giảm theo tuổi, trong khi dịch nội bào tăng khi tăng cân.

Nước quan trọng đối với sự sống hơn thức ăn vì nó cung cấp chất lỏng cần thiết cho mọi phản ứng hóa học, đóng vai trò quan trọng trong các phản ứng và tham gia vào các phản ứng vật lý. Chuyển hóa trong cơ thể: phản ứng thủy phân, phản ứng hydrat hóa, không dự trữ trong cơ thể. Nước đóng vai trò là dung môi hòa tan các chất vô cơ và hữu cơ, từ đó hỗ trợ quá trình tiêu hóa, hấp thu, tuần hoàn, bài tiết, vận chuyển chất dinh dưỡng và loại bỏ chất thải. Quá trình bài tiết nước qua da giúp điều hòa thân nhiệt, cũng giống như dịch cơ thể, nước cần để bảo vệ các mô và cơ quan: bài tiết dịch khớp, dịch não tủy và mồ hôi.

Nguồn nước trong chế độ ăn không chỉ là nước uống mà còn là thức ăn lỏng. Nước cũng được tạo ra trong quá trình chuyển hóa carbohydrate, protein và chất béo. Nó được bài tiết ra khỏi cơ thể qua nước tiểu, phân, hơi thở và mồ hôi.

Yêu cầu: 2,5-3 L/ngày: Nhu cầu nước phụ thuộc vào cân bằng nước vào-ra, nhiệt độ môi trường, hoạt động thể chất.

Nguồn: Hầu hết các loại thực phẩm, nước.

Khoáng chất và khoáng vi lượng

Khoáng chất là các hợp chất vô cơ có trong tất cả các chất lỏng và mô của cơ thể, ở dạng muối (nacl) hoặc kết hợp với các hợp chất hữu cơ (fe trong huyết sắc tố), một số trong đó tạo thành khoáng chất. Ngược lại, một số chất giúp thực hiện các quá trình diễn ra trong cơ thể, vì là nguyên tố nên chúng không bị phân hủy. Mặc dù chất khoáng bị mất đi khi ngâm trong nước hoặc trong quá trình chế biến thực phẩm nhưng nhìn chung chất khoáng không bị phá hủy trong quá trình chế biến thực phẩm. Nhu cầu canxi, photpho, magie > 100mg/ngày, nhu cầu sắt, mangan, kẽm, iốt và các nguyên tố vi lượng khác dưới 100mg/ngày.

Hành động

Có vai trò quan trọng đối với chức năng và sự phát triển bình thường của cơ thể, tham gia vào các thành phần tế bào và mô.

Chứa lượng muối không tan lớn nhất, tham gia vào cấu tạo xương.

Muối hòa tan trong chất lỏng thường phân hủy thành các ion, tạo ra áp suất thẩm thấu (nacl).

Thêm hệ đệm (h2co3).

Nó có thể ức chế và kích hoạt các enzym.

Tác động cụ thể đến trạng thái hóa lý của protein trong tế bào và mô.

Chất khoáng chiếm 4-5% trọng lượng cơ thể.

Một số khoáng sản quan trọng

Natri

là ion chính của dịch ngoại bào và đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối dịch ngoại bào và dịch nội bào.

Yêu cầu hàng ngày: 6g (110meq).

Nguồn: muối, cá biển, tôm, cua.

Có thể cung cấp đủ lượng natri thông qua chế độ ăn bình thường.

Thiếu natri có thể dẫn đến chuột rút và da ẩm ướt.

Thừa natri có thể dẫn đến phù nề, tăng cân và tăng huyết áp ở những bệnh nhân có nguy cơ cao.

Kali

Có vai trò quan trọng trong hoạt động của các tế bào, đặc biệt là tế bào cơ tim.

Là ion chính trong dịch nội bào và đóng vai trò quan trọng trong dẫn truyền thần kinh cơ và hoạt động của hệ thần kinh tự trị.

Yêu cầu: 3g/ngày.

Kali có nhiều trong thịt, khoai tây, rau dền, nấm và cà rốt.

Thiếu kali có thể gây chuột rút, yếu cơ và nhịp tim không đều.

Quá nhiều kali có thể dẫn đến cáu kỉnh, tức giận, rối loạn nhịp tim và tắc nghẽn mạch máu trong tim.

Canxi

Góp phần hình thành xương và răng chắc khỏe.

Đóng vai trò dẫn truyền thần kinh cơ, chu kỳ đông máu và điều hòa nhịp tim.

Rất cần thiết cho trẻ em, phụ nữ và người già.

Yêu cầu: 1-1,5g/ngày. Canxi có nhiều trong sữa, hải sản và trứng.

Sắt

Tham gia cấu tạo nên các men oxy hóa khử trong cơ thể. Tham gia vào quá trình tạo máu và là một trong những thành phần chính của huyết sắc tố.

Được lưu trữ trong gan, lá lách và tủy xương dưới dạng ferritin.

Xem Thêm: Nghị luận xã hội 200 chữ suy nghĩ về tuổi trẻ

Yêu cầu: Nữ: 2,5mg/ngày, Nam: 1mg/ngày.

Sắt thường có trong một số loại rau, gan và trái cây.

Iốt

Giúp tuyến giáp hoạt động bình thường.

Phòng bệnh bướu cổ.

Iốt có nhiều trong hải sản và muối biển.

Kẽm

Hỗ trợ chuyển đổi năng lượng và hình thành mô. Giúp ăn ngon và phát triển tốt.

Phốt phát

Góp phần hình thành xương và răng chắc khỏe.

Vitamin

Vitamin là những hợp chất hữu cơ cần thiết cho cơ thể với một lượng rất nhỏ. Hầu hết các vitamin hoạt động như coenzim, cùng với enzim thực hiện hàng ngàn phản ứng hóa học trong cơ thể. Mặc dù vitamin không cung cấp năng lượng nhưng chúng cần thiết cho quá trình chuyển hóa carbohydrate, protein và chất béo. Hầu hết các vitamin không thể được tổng hợp trong cơ thể hoặc được tổng hợp với một lượng rất nhỏ, vì vậy chúng rất cần thiết trong chế độ ăn uống.

Vitamin được tìm thấy với một lượng rất nhỏ trong thực phẩm. Vitamin bị phá hủy bởi ánh sáng, nhiệt và nấu nướng, và thực phẩm sống chứa nhiều vitamin hơn thực phẩm chế biến. Một số tình trạng thiếu vitamin là:

Các nhóm sau: trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai và cho con bú.

Người nghiện thuốc lá, uống rượu, ma túy lâu năm.

Người ốm yếu kinh niên, thể chất và tinh thần suy nhược.

Những người ăn chay lâu năm.

Vitamin còn có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch và ung thư. Nhiều nhà nghiên cứu khuyên chúng ta nên ăn nhiều loại thực phẩm để có đủ vitamin, nhưng đều đồng ý rằng việc bổ sung vitamin chỉ có giá trị trong một số trường hợp nhất định. Nhiều chuyên gia dinh dưỡng vẫn tin rằng chế độ ăn uống cung cấp hầu hết các loại vitamin là đủ. Trong khi nghiên cứu được tiến hành tốt tiếp tục kiểm tra các chất bổ sung vitamin và tác dụng lâu dài của chúng, hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng vitamin không bao giờ có thể thay thế chế độ ăn uống và dinh dưỡng. lối sống lành mạnh.

Vitamin được chia thành vitamin tan trong nước và vitamin tan trong chất béo.

Vitamin tan trong nước

Bao gồm vitamin C và vitamin B: được hấp thu trực tiếp qua thành ruột và vào máu. Một số mô của cơ thể có thể chứa một lượng nhỏ vitamin tan trong nước, vì vậy nó thường không được lưu trữ trong cơ thể. Các triệu chứng thiếu vitamin rất dễ xuất hiện khi lượng vitamin đưa vào không đủ, vì vậy phải hình thành thói quen ăn uống thích hợp, vì vitamin tan trong nước không được dự trữ và sẽ đào thải ra ngoài khi cung cấp quá nhiều. nước tiểu. . Mặc dù một triệu đơn vị vitamin tan trong nước có thể gây hại cho cơ thể, nhưng vitamin hoạt động khác với ngộ độc.

Vitamin C

Nâng cao sức đề kháng của cơ thể và giữ vững thành mạch.

Tạo collagen, chống oxi hóa, tăng hấp thu sắt.

Yêu cầu: 50-75 mg/ngày. Giàu rau xanh, trái cây tươi có vị chua như cam quýt, súp lơ xanh, ớt chuông, dâu tây, rau xanh.

Dấu hiệu khi thiếu: Chảy máu, vết thương chậm lành.

Dấu hiệu còn lại: sỏi thận, nôn mửa, tiêu chảy.

Vitamin b1

Giúp chuyển hóa glucose thành năng lượng.

Hoạt động như một coenzym trong các phản ứng tạo ra năng lượng từ glucose.

Mầm gạo, trấu, rau xanh, gan, lòng động vật.

Lượng cần thiết: 1-1,4mg.

Thiếu hụt B1 có thể dẫn đến bệnh tê phù, rối loạn tâm thần và suy nhược cơ thể.

Vitamin b2: Tham gia vào cấu trúc của nhiều enzym. Tồn tại trong thịt, cá, sữa…

Vitamin b6

Hoạt động như một coenzym cho protein, chất béo và carbohydrate.

Có trong men bia, chuối, bông cải xanh.

Lượng cần thiết: 1,2-2mg.

Thiếu B6 có thể dẫn đến thiếu máu.

B6 dư thừa có thể gây khó khăn khi đi lại và tê bì tứ chi.

Vitamin b12

Giúp sản xuất các tế bào hồng cầu và giữ cho hệ thống tiêu hóa và thần kinh được tổ chức tốt.

Là một coenzym trong quá trình chuyển hóa protein, nó tạo thành heme, thành phần của huyết sắc tố.

Vitamin B12 cũng có thể được tổng hợp trong vi khuẩn có trong thận, gan, sữa mẹ và đường ruột.

Yêu cầu: 2àg

Thiếu b12: gây thiếu máu ác tính (thiếu b12 không phải là cung cấp không đủ mà là kém hấp thu).

Vitamin tan trong dầu

Trong đó có các vitamin a, d, e, k được hấp thụ vào hệ thống bạch huyết cùng với chất béo, khi quá trình tiêu hóa và hấp thụ chất béo thay đổi, tình trạng thiếu vitamin có thể xảy ra bất cứ lúc nào, chẳng hạn như kém hấp thu tuyến tụy, mật và các triệu chứng bệnh tật. Cơ thể lưu trữ các vitamin tan trong chất béo dư thừa chủ yếu ở gan và mô mỡ. Vì chúng được dự trữ nên không cần thiết phải ăn kiêng hàng ngày và các triệu chứng thiếu hụt có thể xuất hiện hàng tuần, hàng tháng hoặc thậm chí hàng năm sau đó. Uống quá nhiều vitamin, đặc biệt là vitamin A và D, có thể gây độc cho cơ thể.

Vitamin A

Đảm bảo sự phát triển bình thường của xương và răng, bảo vệ niêm mạc và da.

Tham gia cấu tạo tế bào giác mạc: bảo vệ mắt khỏi bệnh quáng gà và khô giác mạc. Nâng cao sức đề kháng của cơ thể và đẩy nhanh quá trình lành vết thương.

Nuôi dưỡng làn da căng mịn.

Có trong quả đỏ tươi, rau xanh đậm, lòng đỏ trứng.

Yêu cầu: 5000ui/ngày.

Thiếu vitamin A có thể dẫn đến chứng quáng gà và da sần sùi.

Xem Thêm : Lời chúc Tết của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc Xuân Nhâm Dần 2022

Thừa vitamin A có thể dẫn đến chán ăn, rụng tóc, khô da và đau nhức xương.

Vitamin D

Giúp cơ thể sử dụng tốt canxi và phốt pho để hình thành và duy trì hệ xương, răng chắc khỏe.

Được hấp thụ chủ yếu qua da khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. c, gan, dầu.

Yêu cầu: 400ui/ngày.

Thiếu vitamin D có thể dẫn đến chậm phát triển xương và tạo xương không đủ.

Thừa vitamin D có thể dẫn đến tăng canxi hóa xương, sỏi thận, nôn mửa, nhức đầu.

Vitamin K

Tham gia vào quá trình đông máu. Được sử dụng ở gan để tổng hợp prothrombin.

Tồn tại trong rau xanh, rau dền, bắp cải, do hệ vi khuẩn đường ruột tổng hợp.

Yêu cầu: 1mg/ngày.

Thiếu vitamin K có thể dẫn đến chảy máu do không có khả năng hình thành cục máu đông.

Thừa vitamin k gây thiếu máu thiếu sắt, tổn thương gan do tổng hợp

Vitamin k.

Vitamin E

Bảo vệ chất béo trong các mô cơ thể khỏi quá trình oxy hóa. Nó là một chất chống oxy hóa chủ yếu chống lại các gốc tự do. Tham gia điều hòa sinh sản. Bảo vệ sự hấp thu vitamin A và tổng hợp huyết sắc tố.

Tồn tại trong dầu thảo mộc, rau xanh, mầm lúa mì, giá đỗ.

Yêu cầu: 10-30mg/ngày.

Thiếu vitamin E làm tăng nguy cơ sinh non.

Dư thừa vitamin E có thể gây mệt mỏi và tiêu chảy.

Sợi

Các loại thực phẩm sau đây chứa nhiều chất xơ:

Trái cây tươi: táo, cam, chuối, bưởi, đu đủ, mận…

Rau xanh: bắp cải, các loại rau có màu xanh đậm hoặc rau sống: xà lách, dưa leo…

Ngũ cốc: bánh mì, khoai, sắn, gạo lứt…

Phần ăn

Cách tính kích thước phục vụ:

Tính toán tổng lượng calo mà một người cần mỗi ngày dựa trên cân nặng, tuổi tác và mức độ công việc.

Calo theo trọng lượng cho nhu cầu cơ bản.

Tính năng lượng cần thiết cho hoạt động thể chất trong ngày.

Tính tỉ lệ giữa các chất để tính năng lượng cần cung cấp cho mỗi chất:

Đạm: 15%; Lipit: 20%; Độ tươi: 65%.

Xem Thêm: Khái niệm tệ nạn xã hội là gì? Phân loại các loại tệ nạn xã hội?

Thành phần thức ăn, chúng ta đếm nhóm thức ăn cung cấp đường, sau đó là protein, lipit.

Lựa chọn thực phẩm phù hợp, đáp ứng đủ định lượng từng chất cần thiết và xây dựng thực đơn theo điều kiện kinh tế gia đình hoặc thực phẩm sẵn có tại địa phương.

Cách tốt nhất để đảm bảo bạn nhận được tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết là ăn nhiều loại thức ăn khác nhau trong ngày.

Chúc bạn ăn ngon

An toàn vệ sinh thực phẩm, thức ăn chín và nấu nướng.

Tạo không gian, tinh thần thoải mái, hạnh phúc.

Làm sạch răng của bạn.

Ăn đủ chất, đủ chất.

Món ăn được trình bày đẹp mắt.

Mùi vị của thức ăn.

Thức ăn phải nóng và ấm.

Đổi món thường xuyên.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu hóa

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bài tiết của đường tiêu hóa, hiểu được các yếu tố này sẽ giúp người điều dưỡng nắm vững các phương pháp cần thiết để duy trì hoạt động tiêu hóa diễn ra bình thường.

Tuổi

Tuổi tác thay đổi ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa, trẻ nhỏ có dạ dày tiết ít men tiêu hóa hơn. Một số loại thức ăn như tinh bột không dễ tiêu hóa đối với trẻ nhỏ, ruột già phát triển nhanh chóng ở tuổi thiếu niên, quá trình tiết axit clohydric tăng lên, đặc biệt là đối với các bé trai.

Người già thường có những thay đổi về hệ tiêu hóa, chức năng tiêu hóa và bài tiết suy yếu, một số người không còn đủ răng nên chức năng ăn nhai cũng bị ảnh hưởng. Thức ăn đi qua đường tiêu hóa chỉ được nhai một phần và không được tiêu hóa, do lượng men tiêu hóa trong nước bọt và axit dạ dày giảm dần theo tuổi tác, nhu động thực quản giảm theo tuổi tác gây khó chịu vùng thượng vị, niêm mạc ruột giảm hấp thu thay đổi dẫn đến đạm , thiếu hụt vitamin và khoáng chất. Người lớn tuổi cũng mất trương lực cơ ở cơ vòng đáy chậu và hậu môn, ngay cả khi cơ vòng còn nguyên vẹn và có thể gặp khó khăn trong việc kiểm soát việc tiết dịch.

Chế độ ăn kiêng

Nạp thức ăn hàng ngày giúp duy trì nhu động ruột, trung bình 12-15 lần/phút, chất xơ trong thức ăn sẽ làm tăng khối lượng phân, kích thích nhu động ruột giúp tống phân ra ngoài. dễ dàng hơn.

Thực phẩm tốt cho đường tiêu hóa như hành tây và bông cải xanh cũng có thể kích thích nhu động ruột. Sự giãn nhẹ của thành ruột làm tăng nhu động ruột.

Một số thức ăn cay có thể làm tăng nhu động dạ dày nhưng cũng có thể gây khó tiêu.

Đối với một số người, một số loại thực phẩm, chẳng hạn như sữa hoặc các sản phẩm từ sữa, gây khó tiêu do không dung nạp được lactoza, một loại đường đơn trong sữa.

Số lượng cung cấp

Việc cung cấp không đủ chất lỏng hoặc một số bệnh như nôn mửa có thể gây ra tình trạng không đủ chất lỏng, ảnh hưởng đến chất lượng phân. Chất lỏng làm lỏng các chất trong lòng ruột, giúp chúng đi qua ruột kết dễ dàng hơn. Người lớn nên uống khoảng 1400-2000ml nước (tùy theo thời tiết).

Đồ uống nóng và nước hoa quả làm mềm phân và tăng nhu động ruột.

Đối với một số người, uống nhiều sữa có thể làm chậm chuyển động và gây táo bón.

Hoạt động hàng ngày

Hoạt động vào ban ngày làm tăng nhu động ruột, trong khi không hoạt động sẽ ức chế chúng.

Nên mổ càng sớm càng tốt sau mổ để duy trì bài tiết bình thường sau bệnh.

Việc duy trì trương lực cơ xương trong quá trình đi tiêu là rất quan trọng. Yếu cơ vùng bụng và vùng chậu làm giảm khả năng tăng áp lực trong ổ bụng và giảm kiểm soát cơ vòng hậu môn ngoài.

Yếu tố tâm lý

Chức năng của hầu hết mọi hệ thống trong cơ thể đều có thể bị suy yếu do căng thẳng. Nếu một người lo lắng, sợ hãi, tức giận sẽ làm tăng nhu động ruột gây ra tiêu chảy, đầy bụng… còn nếu một người bị trầm cảm sẽ làm chậm dẫn truyền thần kinh của hệ thần kinh tự chủ, nhu động ruột giảm.

Một số rối loạn tiêu hóa có liên quan đến căng thẳng thần kinh, ví dụ:

Loét dạ dày, viêm ruột, bệnh Crohn…

Thói quen

Thói quen đại tiện của một người cũng có thể ảnh hưởng đến chức năng của hệ tiêu hóa. Mọi người nên tìm thời gian riêng để đi tiêu. Phản xạ tiêu hóa kích thích nhu động ruột diễn ra dễ dàng nhất là sau bữa ăn sáng.

Bệnh nhân nhập viện rất khó duy trì thói quen đại tiện bình thường, vì nhà vệ sinh phải dùng chung cho nhiều người và thói quen vệ sinh của mỗi người là khác nhau. Tiếng ồn, quang cảnh, sự sạch sẽ và mùi hôi của nhà vệ sinh có thể khiến bệnh nhân bối rối, chính sự bối rối này khiến bệnh nhân khó chịu dẫn đến mất cảm giác muốn đi tiêu, từ đó dẫn đến táo bón.

Tư thế đại tiện

Tư thế đại tiện ngồi xổm là phù hợp, nhà vệ sinh bệnh viện nên thiết kế theo tư thế ngồi xổm.

Cảm thấy đau

Thông thường, đại tiện không đau nhưng trong một số trường hợp, các chấn thương ở vùng trực tràng như bệnh trĩ, phẫu thuật trực tràng, sinh đẻ có thể gây đau khi đại tiện. Trong những trường hợp này, bệnh nhân thường nhịn đi cầu để tránh đau và táo bón. Táo bón là một vấn đề phổ biến ở những bệnh nhân bị đau khi đi tiêu.

Phẫu thuật và gây mê

Thuốc gây mê được sử dụng trong khi phẫu thuật tạm thời làm ngừng nhu động ruột, ức chế hoạt động của dây thần kinh đối giao cảm trong cơ ruột, làm ngừng hoặc làm chậm nhu động ruột và ít có khả năng ảnh hưởng đến bài tiết ở những bệnh nhân được gây tê tại chỗ hoặc gây tê vùng , vì hệ thống tiêu hóa còn ít hoặc không bị ảnh hưởng.

Thuốc

Một số loại thuốc được sử dụng để tạo điều kiện cho nhu động ruột, chẳng hạn như:

Thuốc nhuận tràng làm mềm phân và kích thích nhu động ruột. Với việc sử dụng thuốc nhuận tràng đúng cách, chức năng bài tiết và tiêu hóa vẫn có thể được duy trì một cách an toàn, nhưng nếu dùng quá mức, có thể dẫn đến tiêu chảy nặng, dẫn đến mất nước và mất cân bằng điện giải.

Thuốc giảm đau (thuốc ngủ) có thể làm giảm nhu động ruột và gây táo bón.

Mặc dù thuốc kháng cholinergic như atropine ức chế tiết axit dạ dày và nhu động dạ dày, nhưng chúng được sử dụng để điều trị rối loạn nhu động ruột làm giảm nhu động ruột và có thể dẫn đến táo bón.

Nhiều loại kháng sinh gây tiêu chảy bằng cách phá vỡ các chủng vi khuẩn bình thường trong ruột.

Các xét nghiệm chẩn đoán

Các cuộc kiểm tra yêu cầu xem xét cấu trúc của ruột, nội soi đường tiêu hóa dưới, yêu cầu loại bỏ các chất chứa trong ruột như thuốc tẩy nhẹ hoặc thụt rửa trước các cuộc kiểm tra này, và do đó cũng ảnh hưởng đến bài tiết trước khi có thể tiếp tục ăn uống bình thường.

Các rối loạn tiêu hóa thường gặp

Táo bón

Táo bón là triệu chứng, không phải bệnh, tần suất đại tiện giảm, do phân khô cứng nên người bệnh phải rặn khi đại tiện.

Thói quen đi đại tiện của mỗi người là khác nhau, không phải ai cũng có thói quen đi đại tiện hàng ngày. Đi cầu ra máu sau 4 ngày trở lên được coi là bất thường. Người già không đi đại tiện được 2-3 ngày, đại tiện không khó, đau hay chảy máu là chuyện bình thường.

Táo bón là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng và đối với những bệnh nhân mới trải qua phẫu thuật ở vùng trực tràng hoặc bộ phận sinh dục, việc rặn để đi đại tiện có thể gây đau đớn.

Cần lưu ý bệnh nhân tăng nhãn áp, tăng áp lực nội sọ cần đề phòng táo bón.

Người lớn tuổi có thể bị táo bón do một số loại thuốc uống, chẳng hạn như aspirin, thuốc kháng histamine, thuốc lợi tiểu và thuốc kiểm soát bệnh tiểu đường.

Triệu chứng chủ yếu của táo bón là không đi đại tiện được nhưng vẫn có cảm giác mót rặn, chán ăn, khó tiêu, chướng bụng, đau rát vùng hậu môn trực tràng.

Tiêu chảy

Tiêu chảy nhiều hơn, phân lỏng, nhiều nước và không đều. Các chất trong lòng đi qua ruột non và ruột kết nhanh hơn nhiều so với tốc độ hấp thụ bình thường trong ruột.

Đánh giá phân ở trẻ em có thể rất khó khăn. Trẻ bú bình có thể đi tiêu 2 lần một ngày, trong khi trẻ bú mẹ có thể đi tiêu mềm 5-8 lần một ngày. Sản phụ hoặc người điều dưỡng nên chú ý đến lượng phân và chất lượng phân tăng đột ngột bất thường, kịp thời phát hiện chức năng tiêu hóa bất thường.

Chi tiêu không kiểm soát

Đó là tình trạng mất kiểm soát cơ vòng hậu môn, có thể dẫn đến tiểu không tự chủ.

Đầy hơi (đầy hơi)

Khi không khí đi qua lòng ruột, thành ruột căng ra và phồng lên. Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây đầy hơi, thường là qua miệng (ợ hơi) hoặc qua hậu môn (phân). Là tình trạng giảm nhu động ruột do tác dụng của thuốc mê được sử dụng trong quá trình phẫu thuật có thể gây căng chướng bụng.

Bệnh trĩ

Trĩ là tình trạng các tĩnh mạch ở trực tràng bị sưng và tắc nghẽn, thường được gọi là trĩ nội hoặc trĩ ngoại. Phụ nữ mang thai, bệnh nhân mắc bệnh gan mãn tính, người bị táo bón lâu ngày thường bị tăng áp lực tĩnh mạch do rặn khi đi đại tiện.

Chương trình điều dưỡng rối loạn tiêu hóa

Đánh giá

Hỏi

Hỏi tiền sử bệnh, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa.

Thói quen ăn uống? vừa phải?

Thực phẩm sử dụng: Thực phẩm nào sử dụng trong ngày? uống? …

Xả: tần suất, thời gian trong ngày, mềm hay cứng, đóng khuôn? Màu sắc, số lượng?

Bạn có nôn hoặc cảm thấy buồn nôn không, và nếu có thì lượng chất nôn và màu gì?

Bạn đã áp dụng những phương pháp điều trị nào: uống thuốc hoặc dầu nhuận tràng, uống nước ấm, xoa bụng dưới, uống thuốc cầm tiêu chảy để cầm nôn?

Lượng nước uống hàng ngày?

Thể thao: Thể thao? các môn thể thao? …

Có hậu môn nhân tạo không? Tình trạng của lỗ khí và đặc điểm của vùng da xung quanh là gì?

Tiền sử rối loạn tiêu hóa: viêm loét dạ dày tá tràng, bệnh gan, mật?

Tiền sử: Thuốc nhuận tràng, thuốc kháng axit, chất ion hóa, thuốc giảm đau có thể làm thay đổi quá trình bài tiết và tính chất của phân?

Hoạt động hàng ngày? Nhà vệ sinh tiện nghi?

Bệnh nhân có thể kiểm soát bài tiết không? Bạn có thể đi vệ sinh một mình? Tâm lý bệnh nhân có ổn định hay lo lắng không? …

Chuyến thăm

Kiểm tra miệng xem có cặn trắng trên lưỡi không? Răng: Tình trạng răng: Mất răng, sâu răng, viêm nha chu thường ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai.

Khám bụng: Tình trạng bụng, chu vi, hình dạng, đối xứng, màu sắc, tuần hoàn da bụng, sóng nhu động, sẹo, vết thương bụng.

Nghe thấy tiếng đập bất thường trong bụng.

Đếm nhu động ruột, bình thường 12-15 lần trong vòng 1 phút, nếu tăng có thể là tiêu chảy, giảm có thể là bán tắc.

Vỗ bụng để đánh giá kích thước của gan và lá lách, đồng thời xác định bọt khí trong dạ dày.

Khám bề ngoài và sâu ổ bụng để phát hiện khối u ổ bụng.

Theo dõi xét nghiệm chức năng gan, mật, tụy, các cơ quan ảnh hưởng đến đường tiêu hóa.

Chẩn đoán điều dưỡng

Nguyên nhân gây táo bón

Chuyển động thấp.

Nhà vệ sinh không thoải mái.

Những trường hợp bất thường.

Khan hiếm nước (rút ít nước hơn yêu cầu).

Chế độ ăn ít chất xơ.

Lạm dụng thuốc nhuận tràng.

Nguyên nhân gây tiêu chảy

Ngộ độc thực phẩm, thực phẩm không hợp vệ sinh.

Căng thẳng hoặc lo lắng quá mức.

Chế độ ăn uống không phù hợp với thói quen.

Nguyên nhân gây tiểu không tự chủ

Tổn thương thần kinh, bệnh thần kinh.

Trầm cảm hoặc lo lắng quá mức.

Đau hậu môn do bệnh trĩ
Nguy cơ tổn thương da do dịch lỗ khí

Kế hoạch điều dưỡng

Mục tiêu chăm sóc

Bệnh nhân hiểu quá trình bài tiết bình thường.

Có thói quen đi đại tiện điều độ.

Biết nhu cầu dinh dưỡng của bạn, đặc biệt là nhu cầu về chất xơ và nước trong chế độ ăn uống của bạn.

Trao dồi thói quen vận động (tập thể dục): Người bệnh nên di chuyển càng nhiều càng tốt, đối với những bệnh nhân nằm liệt giường không thể di chuyển thì nên tập thể dục thụ động hoặc chủ động trên giường.

Bệnh nhân cảm thấy thoải mái trong bệnh viện, đặc biệt là khi đi đại tiện, nếu bệnh nhân không thể đi vệ sinh, điều dưỡng phải đảm bảo rằng bệnh nhân được an toàn và thoải mái khi đi đại tiện, và giữ cho đầu bệnh nhân cao 30 độ ( nếu có thể) giúp người bệnh đại tiện dễ dàng hoặc động tác lấy bô ra thật nhẹ nhàng, tránh làm tổn thương da người bệnh.

Duy trì tính toàn vẹn của da và quản lý các lỗ hở trên da để tránh rò rỉ chất lỏng dẫn đến loét da.

Đánh giá

Bệnh nhân đi đại tiện được, phân mềm và không đau.

Người bệnh nhận biết dấu hiệu tiết dịch bất thường qua đường tiêu hóa.

Nguồn: https://anhvufood.vn
Danh mục: Giáo Dục